Hôm nay,  

Chuyện Kể Trong Đêm Giáng Sinh

30/12/202500:00:00(Xem: 1245)

 bo-sach-vvnm


Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Theo học bậc tiểu học và trung học tại Đà Nẵng, đại học tại Sài Gòn.
Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, bang Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Đây là lần đầu tiên tác giả tham dự chương trình VVNM. Bài viết ghi lại một truyện ngắn đã đăng trên tạp chí Văn từ nhiều năm trước vẫn in đậm trong ký ức của ông.
 
***
 
Chiều nay, trên đường lái xe đi làm về, chợt nhớ đến một câu chuyện đã đọc từ rất lâu. Vội ghi lại đôi dòng, như một chuyện kể trong đêm Giáng sinh.
 
 
Câu chuyện Giáng sinh của Hạnh
 
“Chuyến xe buýt đưa Hạnh về nhà kéo dài gần một giờ đồng hồ, đủ để nàng thiếp đi chốc lát. Khi choàng tỉnh, con đường Winter Street vẫn còn hun hút trước mắt, và đúng như cái tên của nó, “Mùa Đông”, tuyết phủ trắng hai bên vệ đường. Từ đâu đó vọng lại giai điệu Jingle Bells rộn ràng. Bên ngoài những ngôi nhà trang hoàng ánh đèn đủ màu, Giáng sinh hiện ra rất gần. Theo bản tin thời tiết buổi sáng, tuyết sẽ rơi suốt ngày mai, nghĩa là nơi nàng đang sống sắp đón một White Christmas - một Giáng sinh trắng đúng nghĩa.
 
Vậy là đã hơn hai năm kể từ ngày hai chị em Hạnh rời quê nhà: hơn một năm trong trại tị nạn, rồi thêm một năm sinh sống tại thành phố miền Bắc nước Mỹ này. Thời gian trôi nhanh đến lạ, nhất là khi con người ta không còn đủ rảnh rỗi để đếm từng ngày. Hạnh vẫn nhớ rất rõ khoảng thời gian này năm ngoái, khi hai chị em vừa rời trại tị nạn để đến đây nhờ sự bảo trợ của hội thánh Tin Lành địa phương. Đó cũng là lần đầu tiên nàng thực sự đối diện với cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông miền Bắc nước Mỹ. Sự háo hức ban đầu khi thấy tuyết rơi trắng xóa, cảnh vật đẹp như tranh vẽ, rốt cuộc cũng không xua tan được cái lạnh cắt da cắt thịt, cùng nỗi nhớ nhà âm ỉ luôn bám riết lấy nàng.
 
Những ngày đầu mới đến, hai chị em tạm ở trong nhà gia đình người bảo trợ. Họ hiền hậu và tử tế. Đêm Giáng sinh, hai chị em được tặng quà, được ngồi vào một bữa cơm ấm cúng. Nhưng khi đêm xuống, trong căn phòng nhỏ chỉ còn lại hai chị em, ôm nhau khóc nức nở vì nỗi cô đơn nơi xứ người, vì nhớ nhà, nhớ ba mẹ và các em đến thắt lòng. Đó là một Giáng sinh buồn đến xót xa, nỗi buồn không thể đo đếm, và cũng là một ký ức mà chị em Hạnh không bao giờ quên.
 
Sau sáu tháng sống chung với gia đình người bảo trợ, hai chị em ra ngoài thuê nhà để bắt đầu cuộc sống riêng. Căn apartment cũ kỹ, chỉ vỏn vẹn một phòng ngủ, trở thành tổ ấm đầu tiên của họ nơi đất khách. Thoắt cái đã tròn một năm trôi qua. Khoảng thời gian ấy chưa đủ dài để nỗi nhớ nguôi ngoai, nhưng những lo toan của cuộc sống mới khiến Hạnh không còn nhiều khoảng trống để đắm mình trong hoài niệm.
 
Nhưng hôm nay thì khác. Cuối năm, bài vở đã hoàn tất, kỳ thi cuối cùng vừa kết thúc, đầu óc nàng bỗng trở nên thảnh thơi hơn. Chuyến xe buýt băng qua những con phố rực rỡ sắc màu Giáng sinh, khơi dậy trong Hạnh nỗi bồi hồi nhớ về thành phố quê nhà, về những mùa Giáng sinh ấm áp từng có bên gia đình.
 
Hạnh nhớ nhất là khoảng thời gian trước biến cố 1975, khi gia đình vẫn còn đầy đủ, nhớ những bữa réveillon thịnh soạn lúc nửa đêm sau khi cả nhà đi lễ nhà thờ về. Sau 1975, dù cuộc sống trở nên khó khăn, ba đi tù cải tạo, không còn những bữa ăn linh đình như xưa, nhưng hai chị em nàng vẫn còn má, còn các em, còn bà con và hàng xóm láng giềng kề cận.
 
Còn bây giờ, hoàn cảnh xô đẩy khiến nàng phải bỏ lại tất cả bên kia bờ đại dương, cách xa hàng chục nghìn cây số. Chính vào lúc này, Hạnh mới thấm thía trọn vẹn cảm giác trơ trọi của một kẻ tha hương, không biết đến bao giờ mới có thể trở về. Nghĩ đến đó, nàng muốn bật khóc. Nhưng giữa nơi xa lạ này, không có ai để sẻ chia, nàng chỉ biết lặng lẽ rớm nước mắt, ôm chặt nỗi buồn của thân phận mình.
 
Giờ này, chị Hai vẫn còn ở chỗ làm. Phải đến gần sáng chị mới về tới nhà. Nghĩ đến chị, Hạnh vừa thương vừa xót. Ngày còn ở Việt Nam, chị là con lớn nhất trong gia đình. Vừa học xong trung học thì biến cố 1975 ập đến, chị phải theo má đi buôn hàng chuyến tận miền Trung, rồi cùng má lặn lội đi thăm ba trong các trại tù “cải tạo” ngoài Bắc. Một tay chị gánh vác, đỡ đần má nuôi các em. Vậy mà khi nghĩ đến tương lai của chị và Hạnh, má đành cắn răng hy sinh, gom hết vốn liếng, biểu chị Hai dẫn nàng đi vượt biên. Má không nỡ để Hạnh một mình ra đi giữa sóng gió.

Sang đến đây, chị Hai lại tiếp tục hy sinh để Hạnh được đi học. Chị làm liền hai công việc: một phần để lo cuộc sống của hai chị em, phần còn lại gửi về cho má nuôi các em ở nhà. Có lần Hạnh ngỏ ý muốn đi làm phụ chị, tạm gác việc học, nhưng chị Hai nhất quyết không chịu, bắt Hạnh phải ghi danh vào đại học cho bằng được.
 
Công việc nặng nhọc khiến mỗi lần về đến nhà vào sáng sớm, chị chỉ kịp lăn ra ngủ vùi. Nhìn chị, Hạnh không cầm được nước mắt, nhưng nàng hiểu chị đã quyết lòng như vậy. Hạnh chỉ còn biết lo dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng, để chị đỡ vất vả mỗi ngày.
 
Thời gian sinh hoạt của hai chị em luôn lệch nhau. Khi Hạnh từ trường về đến nhà thì chị đang ở sở làm; sáng Hạnh chuẩn bị đi học thì chị ngủ đến trưa, rồi vội vã rời nhà để bắt đầu công việc thứ nhất. Buổi chiều tan ca, chị lại tất tả chạy sang làm tiếp công việc thứ hai. Hai chị em chỉ có thể gặp nhau trong những khoảnh khắc ngắn ngủi cuối tuần, cùng đi chợ, nấu nướng, chuẩn bị cho tuần mới.
 
Thời gian lặng lẽ trôi, tuổi xuân của chị cũng theo đó mà qua đi, từ những năm tháng còn ở quê nhà cho đến nơi đất khách này. Những hy sinh chị dành cho em út, cho gia đình, làm sao kể cho xiết. Nghĩ đến chị Hai, Hạnh thương vô cùng. Hạnh tự nhủ phải cố gắng học hành để không phụ những hy sinh ấy, không phụ kỳ vọng của má và của ba nơi quê nhà. Nàng quyết tâm học ngày học đêm để sớm ra trường, đi làm phụ giúp chị. Hơn nữa, nàng cũng không cho phép mình lơ là, bởi rào cản ngôn ngữ khiến việc học vất vả hơn nhiều so với sinh viên bản xứ. Vốn tiếng Anh còn hạn chế, nhiều lúc nàng không theo kịp bài giảng, nên người ta học một thì nàng phải cặm cụi gấp hai, gấp ba mới mong bắt kịp. Hai học kỳ trôi qua, tiếng Anh của nàng đã khá hơn. Bài thi cuối kỳ vừa rồi, Hạnh làm bài khá trôi chảy và hy vọng kết quả sẽ cao hơn học kỳ đầu.
 
Nghĩ đến chuyện học, Hạnh chợt nhớ đến Jack, anh sinh viên học chung lớp toán. Jack thường bắt chuyện và luôn sẵn sàng giúp đỡ mỗi khi nàng không hiểu bài. Anh đưa cho nàng xem những trang vở ghi chép cẩn thận để nàng chép lại. Hạnh hiểu Jack có cảm tình và muốn làm quen. Tuy vậy, nàng cố tình làm ngơ. Nàng không muốn những chuyện bên ngoài làm xao lãng việc học. Nhiều lần Jack ngỏ ý đưa nàng về nhà sau giờ học, nhưng lần nào nàng cũng nhẹ nhàng từ chối. Jack nói, anh để ý thấy khu apartment của hai chị em nàng cũng gần nhà anh ấy, ngay trên con đường Hạnh thường đi ngang qua để đến trạm xe buýt. Hạnh cũng tò mò nên biết nhà Jack nằm phía cuối một con đường rẽ ngang, ngôi nhà có khu vườn nhỏ trồng đầy hoa, không lớn nhưng xinh xắn.
 
Chiều nay, Jack lại nấn ná đòi đưa Hạnh về. Anh bảo trời lạnh, Giáng sinh sắp đến, không muốn nàng bị cảm trong mùa lễ. Hạnh có chút cảm động, nhưng vẫn dứt khoát từ chối. Nàng không muốn vướng bận những tình cảm trai gái vào lúc này, khi hoàn cảnh chưa cho phép. Lời từ chối khiến Jack có phần thất vọng, nhưng anh vẫn mỉm cười, nói rằng lúc nào cũng sẵn sàng chào đón nếu nàng ghé chơi. Anh còn mời nàng đến dự tiệc Giáng sinh của gia đình tối nay. Chiều tan lớp, Jack đi bộ cùng nàng ra tận trạm xe buýt, đứng đợi đến khi Hạnh lên xe rồi mới quay lại bãi đậu của trường.
 
Mải miên man với những suy nghĩ vẩn vơ, đến khi tiếng chuông báo đến trạm vang lên, Hạnh mới giật mình sực tỉnh. Nàng vội đeo túi xách lên vai, bước xuống xe. Cái lạnh như lưỡi dao lập tức ập đến. Dù đã mặc ba lớp áo dày, nàng vẫn cảm nhận rõ cái buốt thấu xương khi nhiệt độ xuống rất xa dưới mức không độ.
 
Giữa mùa đông băng giá nơi xứ tuyết, trong một ngày trước Giáng sinh, bước đi trên con đường trắng xóa hai bên, nỗi nhớ quê nhà và cảm giác cô đơn bỗng ùa đến vây lấy nàng. Hạnh thèm được hít thở lại bầu không khí Giáng sinh của những năm còn ở quê nhà. Giáng sinh của những con đường đông vui, của một Sài Gòn giờ chỉ còn tồn tại trong ký ức. Tiếng chuông nhà thờ Ba Chuông gần nhà như còn vọng lên trong tâm trí nàng, ngân nga không dứt.
 
Nàng thèm có một ai đó thấu hiểu, sẻ chia trong giây phút này. Và rồi, Hạnh chợt nhớ đến ánh mắt của Jack, ánh mắt ấm áp, đắm đuối khiến nàng mỗi lần bắt gặp đều phải lảng tránh. Đôi mắt xanh sâu thẳm của chàng trai Mỹ gốc Ý khẽ làm tim nàng xao động.
 
Trên con đường chậm rãi bước về nhà, Hạnh biết mình sắp đi ngang qua lối rẽ dẫn đến nhà Jack. Một ý nghĩ mơ hồ bỗng nhen lên. Nàng hình dung khung cảnh sum họp ấm áp trong ngôi nhà ấy, điều mà đã rất lâu rồi nàng không còn được chạm tới.

Rồi nàng nghĩ đến căn phòng nhỏ nơi cuối con đường mình sẽ trở về tối nay: vắng lặng, lạnh lẽo, chị Hai vẫn còn ở chỗ làm đến tận sáng. Cảm giác cô đơn bỗng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Nàng khao khát được ngồi vào một bữa cơm gia đình ấm áp, như những ngày xưa ở quê nhà. Hạnh chợt nhớ đến ánh mắt khẩn khoản của Jack, nhớ đến lời mời dự bữa tiệc Giáng sinh tối nay. Và rồi, gần như trong vô thức, khi lý trí không còn đủ sức níu giữ, nàng rẽ ngang vào con đường dẫn về nhà Jack. Hạnh bước đi, mơ hồ và lặng lẽ, như đang tìm kiếm một điều gì đó đã mất từ rất lâu…” (Viết theo trí nhớ)
 
 
Câu chuyện trên không phải do tôi viết, mà là một truyện ngắn tôi từng đọc trên tạp chí Văn, xuất bản vào khoảng đầu những năm 80. Truyện rất ngắn, thậm chí chưa có một đoạn kết trọn vẹn, vậy mà đến nay vẫn còn đọng lại trong tôi như một ám ảnh khó quên.
 
Những năm đầu rời khỏi nước, sống ở một vùng quê nước Nhật, nơi người Việt vô cùng hiếm hoi, không tránh khỏi cảm giác buồn chán. Để vơi bớt tâm trạng ấy, tôi đặt mua một số báo và tập san xuất bản từ Mỹ gửi sang. Trong số ấy có tạp chí Văn, do nhà văn Mai Thảo làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Chính trên một số báo cuối năm của Văn, tôi đã đọc được truyện ngắn có nội dung gần như câu chuyện vừa kể.
 
Nếu tôi nhớ không lầm, tác giả là một cây bút nữ. Nhân vật chính chắc chắn tên Hạnh, còn chàng trai người Mỹ thì tôi chỉ nhớ mang máng là Jack. Có lẽ vì hoàn cảnh xa xứ của chính mình, lại thêm việc hai người em gái của tôi cũng vượt biên rồi định cư tại Mỹ vào cùng thời gian ấy, nên câu chuyện đã khiến tôi đặc biệt xúc động. Khi đọc những dòng tác giả viết về hai chị em cô Hạnh, tôi không khỏi liên tưởng và lo lắng cho hoàn cảnh hai cô em mình, một thân trơ trọi nơi đất khách. Theo tôi, đó là một trong rất nhiều câu chuyện chung, nói lên những trải nghiệm bơ vơ, chông chênh mà bao thanh thiếu niên Việt Nam đã từng trải qua trong những bước đầu nơi xứ người.
 
Qua nhiều lần dọn nhà và những năm tháng bận rộn, những số Văn tôi từng nâng niu cất giữ dần thất lạc. Riêng truyện ngắn ấy thì vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức mình. Sau này, khi internet phát triển, tôi đã nhiều lần lên mạng tìm lại, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Có lẽ tác giả không phải là một tên tuổi lớn, nên truyện ngắn ấy chỉ xuất hiện một lần ngắn ngủi trên Văn, rồi lặng lẽ chìm vào quên lãng.

Thế nhưng suốt bao năm nay, mỗi mùa Giáng sinh về, nhớ lại truyện ngắn ấy tôi vẫn không khỏi băn khoăn tự hỏi: rồi nhân vật Hạnh sẽ ra sao? Câu chuyện giữa Hạnh và chàng trai tên Jack sẽ đi đến đâu? Cuộc sống của hai chị em Hạnh trên đất Mỹ rồi sẽ thế nào? Những câu hỏi ấy, đến nay vẫn chưa có lời đáp.
 
Boston, đêm Giáng Sinh năm 2025
 
Trương Hữu Hiền

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 500,726
California đang vào Thu. Khí trời trở nên mát mẻ, bỏ lại sau lưng những ngày hè oi bức. Cũng một buổi sáng đầu tuần như thường lệ nhưng mọi việc dường như chậm lại, vài điện thư gửi đi cũng chưa thấy hồi âm, mọi việc có lẽ đều bị ảnh hưởng từ việc chính phủ đóng cửa. Tôi cho phép mình được thư thả ngồi bên ly cà phê nóng, chậm rãi nhâm nhi chiếc bánh croissant thơm lừng với một chút phô mai. Ngắm mưa rơi lộp độp trên cửa kính, tôi bỗng nhớ về những cơn mưa của ngày xa xưa. Ở đây, hình như mưa lạnh và buồn hơn; còn ở quê tôi, Mỹ Tho, mưa mang theo mùi phù sa, mùi lá dừa, mưa đưa tiếng cười trẻ con rộn rã về với những mái tranh. Mỗi giọt mưa rơi trên mái lá như một lời ru, nhắc nhớ những buổi cơm chiều từ bàn tay Ngoại, khi nồi cá kho tộ sôi riu riu thật vui tai, khi tô canh chua bốc khói hòa lẫn mùi thơm dìu dịu của ngò om. Tôi nhắm mắt, hít thật sâu và thấy mình như trở về một không gian cũ kỹ mà ấm áp, ngập tràn hạnh phúc đơn sơ qua dáng đi siêu vẹo, còm cõi của Ngoại tôi.
Tôi vẫn tin rằng, sự chia rẽ trong một cộng đồng, dù đau đớn và kéo dài đến đâu, cũng chỉ là một giai đoạn mang tính tạm thời trong tiến trình phát triển của xã hội. Bởi lẽ, thời gian luôn là yếu tố có khả năng gạn lọc những gì tiêu cực, cực đoan và phi lý. Mọi thứ sẽ dần lắng xuống, những mâu thuẫn, hiểu lầm, khác biệt sẽ được sàng lọc như lớp phù sa được nước lũ cuốn đi, để lại những giá trị chung làm nền tảng kết nối con người với nhau.
Mỗi năm tới ngày này, lòng tôi dâng lên một cảm giác vừa bùi ngùi, vừa ấm áp. Đó là ngày giỗ ông Nội chồng. Một ngày mà không chỉ riêng gia đình nhỏ của tôi mà cả đại gia đình, xem như một ngày sum họp quan trọng. Dẫu Ông đã đi xa nhiều năm, hình ảnh kỷ niệm, và tình thương của Ông vẫn còn hiện diện, trong từng nhà, trong từng câu chuyện được con cháu nhắc lại. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống đạo Công Giáo, gia đình nội của tôi có một Linh Mục, gia đình ngoại có ba Linh Mục, chị ruột nữ tu dòng Saint Paul, họ suốt đời tận hiến cho Chúa và tha nhân. Đó là niềm hãnh diện không chỉ cho gia đình mà còn cho họ hàng, thân quen. Trong khi đó, gia đình chồng tôi, từ bao đời gìn giữ đạo thờ cúng tổ tiên. Đặc biệt con trai và cháu ngoại của ông anh chồng, một là Đại Đức trụ trì chùa An Cựu, và một là Đại Đức giảng dạy tu viện Phật giáo ở Florida...
Seldon Lake State Park là cánh rừng còn nhiều hoang sơ của Houston, tiểu bang Texas (TX), rộng 2,800 mẫu Anh. Khu rừng mênh mông này đã được chính quyền TX xây dựng từ thế chiến thứ 2, là nơi dân địa phương tới câu cá trên những hồ nước thiên nhiên rộng lớn. Từ năm 1975, những hồ này trở thành khu rừng công viên tiểu bang (State Park). Về khu rừng tiểu bang Seldon (Seldon Lake State Park), chính phủ đang cố công gây dựng lại khu rừng bị bỏ hoang dã thành công viên tiểu bang. Họ tìm trồng lại những giống cây của Texas đã từ lâu bị biến mất. Nuôi trong tự nhiên những nai, thỏ, cò, vạc, những giống chim muông như thời hoang dã.
Sáng cuối tuần, trời trong xanh, nắng rải vàng khắp những hàng cây dọc bãi đậu xe trước khu chợ Á Đông. Bố chở mẹ và tôi đến quán phở quen thuộc trong khu thương xá. Quán nhỏ, treo vài tấm tranh phố xưa, lúc nào cũng ồn ào tiếng nói cười của những người Việt xa quê. Chúng tôi ngồi chung một bàn, bát phở nghi ngút khói. Bố thong thả nhấp cà phê, thỉnh thoảng pha trò làm mẹ bật cười, còn tôi cũng cười theo, thấy lòng mình ấm áp. Hạnh phúc, đôi khi rất bình thường và gần gũi. Ăn xong, bố để hai mẹ con xuống siêu thị rồi ngồi chờ ngoài xe, mở YouTube, mở báo online xem tin tức. Bố lúc nào cũng say mê nghe ngóng tình hình nước Mỹ hằng ngày, như là một chính trị gia, hay một công dân yêu nước thực thụ.
Thông là loại cây thường không mọc ở nơi đồng bằng trù phú, nơi mưa thuận gió hòa. Nó được gieo vào giữa sỏi đá khô cằn, chịu dãi dầu gió tuyết, nắng gắt hay bão giông. Vậy mà, năm tháng trôi qua, thân nó vẫn vươn cao, ngọn lá xanh biếc, đứng hiên ngang giữa đất trời. Người xưa thường dùng hình ảnh cây thông để nói về sự kiên cường, bất khuất, không cúi đầu trước nghịch cảnh. Những khi gặp phải những khó khăn, đối mặt với những thử thách, tôi lại nhìn thấy gia đình tôi, và đặc biệt Ba tôi, một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong hình ảnh những cây thông ấy. Lịch sử nghiệt ngã đã khiến đất nước tôi rơi vào tay cộng sản, người dân quê tôi bị đọa đày. Nước mất thì nhà tan nhưng nhờ niềm tin vào Thiên Chúa, chúng tôi đã đứng vững, đã vươn lên, và đã tìm thấy một bầu trời mới để tiếp tục sống và phụng sự.
Bà thong thả bước vào nhà, thưởng thức ly cà phê thơm mùi bơ đậu phụng. Đó là bí quyết pha chế của gia đình ông Hữu lúc mở quán cà phê căn nhà để dư sau 1975. Lúc mà ông trở thành tên “vô lương mất dạy, buôn bán sáu mặt” (tiếng lóng: Nhà giáo không được đi dạy, không có lương, buôn bán sặc máu). Trước mặt bà là lát mì kèm với phô mai Đầu Bò dùng điểm tâm kiêm luôn buổi trưa, ăn mà tưởng nhớ tới công lao nhiều người cho mình no bao tử sáng nay, bà ăn trong sự biết ơn nên cảm nhận được cái ngon của ly cà phê, của bánh mì, của miếng phô mai.
Thử tưởng tượng nếu không có mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm, thế gian này sẽ ra sao nhỉ? Sẽ không còn vô số loài hoa đẹp nở rộ vào mùa xuân, sẽ không có cảnh những đàn chim di cư về những miền đất ấm. Những cánh đồng hoa dại ngút ngàn sẽ biến mất. Những rừng cây trơ trụi lá ngủ đông sẽ không bừng tỉnh để mầm non đâm chồi và nhú lộc. Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ và họa sĩ sẽ mất đi cảm hứng sáng tác. Nhiệt độ chuyển đột ngột từ lạnh ngắt sang cái nóng của mùa hè sẽ làm cơ thể con người không kịp thích nghi, mọi thứ sẽ bị đảo lộn, rối tung. Cuộc sống sẽ chẳng còn thú vị. Mùa xuân quan trọng biết bao, vậy mà có đôi lần tôi đã thầm nhủ mùa xuân ơi, đừng đến với tôi nữa làm gì.
Mỗi người có một thú tiêu khiển khác nhau. Người thì thích xem phim. Kẻ thì mê đọc sách. Người khác thì khoái nghe nhạc. Cũng có người dùng thể thao là niềm vui mỗi ngày. Thú tiêu khiển giúp chúng ta thấy cuộc sống vui hơn. Riêng tôi, viết lách là đam mê không thể bỏ được. Tôi viết đủ thứ từ âm nhạc, tiểu thuyết, thơ và viết cho chương trình Viết Về Nước Mỹ (VVNM) của Việt Báo.
Lúc còn ở Việt Nam, tôi nghe nhiều lời đồn về nước Mỹ. Thiên hạ đồn dân Mỹ có đời sống sung sướng lắm. Ai cũng có nhà lầu xe hơi đầy đủ. Tiền của ê hề mặc tinh mà phung phí. Cuộc sống thượng luu phong phú như vậy nhà nào cũng đầy đủ tiện nghi du lịch ăn uống xả giàn, lúc nào củng tiền đô đầy túi xài tiền quăng qua của sổ rớt đất chẳng hề cong lưng mà lượm. So với Bạch công tử, Hắc công tử của Việt Nam thì thua xa, nói ra chỉ mắc cỡ mà thôi. Còn thua thiệt nhiều. Đối với xã hội Mỹ, dân Mỹ một hai ngàn đô mà nhằm nhò gì, chuyện nhỏ, không đáng khom lưng lượm chi cho mỏi lưng.
Nhạc sĩ Cung Tiến