Hôm nay,  

Chuyện Kể Trong Đêm Giáng Sinh

30/12/202500:00:00(Xem: 1245)

 bo-sach-vvnm


Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Theo học bậc tiểu học và trung học tại Đà Nẵng, đại học tại Sài Gòn.
Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, bang Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Đây là lần đầu tiên tác giả tham dự chương trình VVNM. Bài viết ghi lại một truyện ngắn đã đăng trên tạp chí Văn từ nhiều năm trước vẫn in đậm trong ký ức của ông.
 
***
 
Chiều nay, trên đường lái xe đi làm về, chợt nhớ đến một câu chuyện đã đọc từ rất lâu. Vội ghi lại đôi dòng, như một chuyện kể trong đêm Giáng sinh.
 
 
Câu chuyện Giáng sinh của Hạnh
 
“Chuyến xe buýt đưa Hạnh về nhà kéo dài gần một giờ đồng hồ, đủ để nàng thiếp đi chốc lát. Khi choàng tỉnh, con đường Winter Street vẫn còn hun hút trước mắt, và đúng như cái tên của nó, “Mùa Đông”, tuyết phủ trắng hai bên vệ đường. Từ đâu đó vọng lại giai điệu Jingle Bells rộn ràng. Bên ngoài những ngôi nhà trang hoàng ánh đèn đủ màu, Giáng sinh hiện ra rất gần. Theo bản tin thời tiết buổi sáng, tuyết sẽ rơi suốt ngày mai, nghĩa là nơi nàng đang sống sắp đón một White Christmas - một Giáng sinh trắng đúng nghĩa.
 
Vậy là đã hơn hai năm kể từ ngày hai chị em Hạnh rời quê nhà: hơn một năm trong trại tị nạn, rồi thêm một năm sinh sống tại thành phố miền Bắc nước Mỹ này. Thời gian trôi nhanh đến lạ, nhất là khi con người ta không còn đủ rảnh rỗi để đếm từng ngày. Hạnh vẫn nhớ rất rõ khoảng thời gian này năm ngoái, khi hai chị em vừa rời trại tị nạn để đến đây nhờ sự bảo trợ của hội thánh Tin Lành địa phương. Đó cũng là lần đầu tiên nàng thực sự đối diện với cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông miền Bắc nước Mỹ. Sự háo hức ban đầu khi thấy tuyết rơi trắng xóa, cảnh vật đẹp như tranh vẽ, rốt cuộc cũng không xua tan được cái lạnh cắt da cắt thịt, cùng nỗi nhớ nhà âm ỉ luôn bám riết lấy nàng.
 
Những ngày đầu mới đến, hai chị em tạm ở trong nhà gia đình người bảo trợ. Họ hiền hậu và tử tế. Đêm Giáng sinh, hai chị em được tặng quà, được ngồi vào một bữa cơm ấm cúng. Nhưng khi đêm xuống, trong căn phòng nhỏ chỉ còn lại hai chị em, ôm nhau khóc nức nở vì nỗi cô đơn nơi xứ người, vì nhớ nhà, nhớ ba mẹ và các em đến thắt lòng. Đó là một Giáng sinh buồn đến xót xa, nỗi buồn không thể đo đếm, và cũng là một ký ức mà chị em Hạnh không bao giờ quên.
 
Sau sáu tháng sống chung với gia đình người bảo trợ, hai chị em ra ngoài thuê nhà để bắt đầu cuộc sống riêng. Căn apartment cũ kỹ, chỉ vỏn vẹn một phòng ngủ, trở thành tổ ấm đầu tiên của họ nơi đất khách. Thoắt cái đã tròn một năm trôi qua. Khoảng thời gian ấy chưa đủ dài để nỗi nhớ nguôi ngoai, nhưng những lo toan của cuộc sống mới khiến Hạnh không còn nhiều khoảng trống để đắm mình trong hoài niệm.
 
Nhưng hôm nay thì khác. Cuối năm, bài vở đã hoàn tất, kỳ thi cuối cùng vừa kết thúc, đầu óc nàng bỗng trở nên thảnh thơi hơn. Chuyến xe buýt băng qua những con phố rực rỡ sắc màu Giáng sinh, khơi dậy trong Hạnh nỗi bồi hồi nhớ về thành phố quê nhà, về những mùa Giáng sinh ấm áp từng có bên gia đình.
 
Hạnh nhớ nhất là khoảng thời gian trước biến cố 1975, khi gia đình vẫn còn đầy đủ, nhớ những bữa réveillon thịnh soạn lúc nửa đêm sau khi cả nhà đi lễ nhà thờ về. Sau 1975, dù cuộc sống trở nên khó khăn, ba đi tù cải tạo, không còn những bữa ăn linh đình như xưa, nhưng hai chị em nàng vẫn còn má, còn các em, còn bà con và hàng xóm láng giềng kề cận.
 
Còn bây giờ, hoàn cảnh xô đẩy khiến nàng phải bỏ lại tất cả bên kia bờ đại dương, cách xa hàng chục nghìn cây số. Chính vào lúc này, Hạnh mới thấm thía trọn vẹn cảm giác trơ trọi của một kẻ tha hương, không biết đến bao giờ mới có thể trở về. Nghĩ đến đó, nàng muốn bật khóc. Nhưng giữa nơi xa lạ này, không có ai để sẻ chia, nàng chỉ biết lặng lẽ rớm nước mắt, ôm chặt nỗi buồn của thân phận mình.
 
Giờ này, chị Hai vẫn còn ở chỗ làm. Phải đến gần sáng chị mới về tới nhà. Nghĩ đến chị, Hạnh vừa thương vừa xót. Ngày còn ở Việt Nam, chị là con lớn nhất trong gia đình. Vừa học xong trung học thì biến cố 1975 ập đến, chị phải theo má đi buôn hàng chuyến tận miền Trung, rồi cùng má lặn lội đi thăm ba trong các trại tù “cải tạo” ngoài Bắc. Một tay chị gánh vác, đỡ đần má nuôi các em. Vậy mà khi nghĩ đến tương lai của chị và Hạnh, má đành cắn răng hy sinh, gom hết vốn liếng, biểu chị Hai dẫn nàng đi vượt biên. Má không nỡ để Hạnh một mình ra đi giữa sóng gió.

Sang đến đây, chị Hai lại tiếp tục hy sinh để Hạnh được đi học. Chị làm liền hai công việc: một phần để lo cuộc sống của hai chị em, phần còn lại gửi về cho má nuôi các em ở nhà. Có lần Hạnh ngỏ ý muốn đi làm phụ chị, tạm gác việc học, nhưng chị Hai nhất quyết không chịu, bắt Hạnh phải ghi danh vào đại học cho bằng được.
 
Công việc nặng nhọc khiến mỗi lần về đến nhà vào sáng sớm, chị chỉ kịp lăn ra ngủ vùi. Nhìn chị, Hạnh không cầm được nước mắt, nhưng nàng hiểu chị đã quyết lòng như vậy. Hạnh chỉ còn biết lo dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng, để chị đỡ vất vả mỗi ngày.
 
Thời gian sinh hoạt của hai chị em luôn lệch nhau. Khi Hạnh từ trường về đến nhà thì chị đang ở sở làm; sáng Hạnh chuẩn bị đi học thì chị ngủ đến trưa, rồi vội vã rời nhà để bắt đầu công việc thứ nhất. Buổi chiều tan ca, chị lại tất tả chạy sang làm tiếp công việc thứ hai. Hai chị em chỉ có thể gặp nhau trong những khoảnh khắc ngắn ngủi cuối tuần, cùng đi chợ, nấu nướng, chuẩn bị cho tuần mới.
 
Thời gian lặng lẽ trôi, tuổi xuân của chị cũng theo đó mà qua đi, từ những năm tháng còn ở quê nhà cho đến nơi đất khách này. Những hy sinh chị dành cho em út, cho gia đình, làm sao kể cho xiết. Nghĩ đến chị Hai, Hạnh thương vô cùng. Hạnh tự nhủ phải cố gắng học hành để không phụ những hy sinh ấy, không phụ kỳ vọng của má và của ba nơi quê nhà. Nàng quyết tâm học ngày học đêm để sớm ra trường, đi làm phụ giúp chị. Hơn nữa, nàng cũng không cho phép mình lơ là, bởi rào cản ngôn ngữ khiến việc học vất vả hơn nhiều so với sinh viên bản xứ. Vốn tiếng Anh còn hạn chế, nhiều lúc nàng không theo kịp bài giảng, nên người ta học một thì nàng phải cặm cụi gấp hai, gấp ba mới mong bắt kịp. Hai học kỳ trôi qua, tiếng Anh của nàng đã khá hơn. Bài thi cuối kỳ vừa rồi, Hạnh làm bài khá trôi chảy và hy vọng kết quả sẽ cao hơn học kỳ đầu.
 
Nghĩ đến chuyện học, Hạnh chợt nhớ đến Jack, anh sinh viên học chung lớp toán. Jack thường bắt chuyện và luôn sẵn sàng giúp đỡ mỗi khi nàng không hiểu bài. Anh đưa cho nàng xem những trang vở ghi chép cẩn thận để nàng chép lại. Hạnh hiểu Jack có cảm tình và muốn làm quen. Tuy vậy, nàng cố tình làm ngơ. Nàng không muốn những chuyện bên ngoài làm xao lãng việc học. Nhiều lần Jack ngỏ ý đưa nàng về nhà sau giờ học, nhưng lần nào nàng cũng nhẹ nhàng từ chối. Jack nói, anh để ý thấy khu apartment của hai chị em nàng cũng gần nhà anh ấy, ngay trên con đường Hạnh thường đi ngang qua để đến trạm xe buýt. Hạnh cũng tò mò nên biết nhà Jack nằm phía cuối một con đường rẽ ngang, ngôi nhà có khu vườn nhỏ trồng đầy hoa, không lớn nhưng xinh xắn.
 
Chiều nay, Jack lại nấn ná đòi đưa Hạnh về. Anh bảo trời lạnh, Giáng sinh sắp đến, không muốn nàng bị cảm trong mùa lễ. Hạnh có chút cảm động, nhưng vẫn dứt khoát từ chối. Nàng không muốn vướng bận những tình cảm trai gái vào lúc này, khi hoàn cảnh chưa cho phép. Lời từ chối khiến Jack có phần thất vọng, nhưng anh vẫn mỉm cười, nói rằng lúc nào cũng sẵn sàng chào đón nếu nàng ghé chơi. Anh còn mời nàng đến dự tiệc Giáng sinh của gia đình tối nay. Chiều tan lớp, Jack đi bộ cùng nàng ra tận trạm xe buýt, đứng đợi đến khi Hạnh lên xe rồi mới quay lại bãi đậu của trường.
 
Mải miên man với những suy nghĩ vẩn vơ, đến khi tiếng chuông báo đến trạm vang lên, Hạnh mới giật mình sực tỉnh. Nàng vội đeo túi xách lên vai, bước xuống xe. Cái lạnh như lưỡi dao lập tức ập đến. Dù đã mặc ba lớp áo dày, nàng vẫn cảm nhận rõ cái buốt thấu xương khi nhiệt độ xuống rất xa dưới mức không độ.
 
Giữa mùa đông băng giá nơi xứ tuyết, trong một ngày trước Giáng sinh, bước đi trên con đường trắng xóa hai bên, nỗi nhớ quê nhà và cảm giác cô đơn bỗng ùa đến vây lấy nàng. Hạnh thèm được hít thở lại bầu không khí Giáng sinh của những năm còn ở quê nhà. Giáng sinh của những con đường đông vui, của một Sài Gòn giờ chỉ còn tồn tại trong ký ức. Tiếng chuông nhà thờ Ba Chuông gần nhà như còn vọng lên trong tâm trí nàng, ngân nga không dứt.
 
Nàng thèm có một ai đó thấu hiểu, sẻ chia trong giây phút này. Và rồi, Hạnh chợt nhớ đến ánh mắt của Jack, ánh mắt ấm áp, đắm đuối khiến nàng mỗi lần bắt gặp đều phải lảng tránh. Đôi mắt xanh sâu thẳm của chàng trai Mỹ gốc Ý khẽ làm tim nàng xao động.
 
Trên con đường chậm rãi bước về nhà, Hạnh biết mình sắp đi ngang qua lối rẽ dẫn đến nhà Jack. Một ý nghĩ mơ hồ bỗng nhen lên. Nàng hình dung khung cảnh sum họp ấm áp trong ngôi nhà ấy, điều mà đã rất lâu rồi nàng không còn được chạm tới.

Rồi nàng nghĩ đến căn phòng nhỏ nơi cuối con đường mình sẽ trở về tối nay: vắng lặng, lạnh lẽo, chị Hai vẫn còn ở chỗ làm đến tận sáng. Cảm giác cô đơn bỗng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Nàng khao khát được ngồi vào một bữa cơm gia đình ấm áp, như những ngày xưa ở quê nhà. Hạnh chợt nhớ đến ánh mắt khẩn khoản của Jack, nhớ đến lời mời dự bữa tiệc Giáng sinh tối nay. Và rồi, gần như trong vô thức, khi lý trí không còn đủ sức níu giữ, nàng rẽ ngang vào con đường dẫn về nhà Jack. Hạnh bước đi, mơ hồ và lặng lẽ, như đang tìm kiếm một điều gì đó đã mất từ rất lâu…” (Viết theo trí nhớ)
 
 
Câu chuyện trên không phải do tôi viết, mà là một truyện ngắn tôi từng đọc trên tạp chí Văn, xuất bản vào khoảng đầu những năm 80. Truyện rất ngắn, thậm chí chưa có một đoạn kết trọn vẹn, vậy mà đến nay vẫn còn đọng lại trong tôi như một ám ảnh khó quên.
 
Những năm đầu rời khỏi nước, sống ở một vùng quê nước Nhật, nơi người Việt vô cùng hiếm hoi, không tránh khỏi cảm giác buồn chán. Để vơi bớt tâm trạng ấy, tôi đặt mua một số báo và tập san xuất bản từ Mỹ gửi sang. Trong số ấy có tạp chí Văn, do nhà văn Mai Thảo làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Chính trên một số báo cuối năm của Văn, tôi đã đọc được truyện ngắn có nội dung gần như câu chuyện vừa kể.
 
Nếu tôi nhớ không lầm, tác giả là một cây bút nữ. Nhân vật chính chắc chắn tên Hạnh, còn chàng trai người Mỹ thì tôi chỉ nhớ mang máng là Jack. Có lẽ vì hoàn cảnh xa xứ của chính mình, lại thêm việc hai người em gái của tôi cũng vượt biên rồi định cư tại Mỹ vào cùng thời gian ấy, nên câu chuyện đã khiến tôi đặc biệt xúc động. Khi đọc những dòng tác giả viết về hai chị em cô Hạnh, tôi không khỏi liên tưởng và lo lắng cho hoàn cảnh hai cô em mình, một thân trơ trọi nơi đất khách. Theo tôi, đó là một trong rất nhiều câu chuyện chung, nói lên những trải nghiệm bơ vơ, chông chênh mà bao thanh thiếu niên Việt Nam đã từng trải qua trong những bước đầu nơi xứ người.
 
Qua nhiều lần dọn nhà và những năm tháng bận rộn, những số Văn tôi từng nâng niu cất giữ dần thất lạc. Riêng truyện ngắn ấy thì vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức mình. Sau này, khi internet phát triển, tôi đã nhiều lần lên mạng tìm lại, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Có lẽ tác giả không phải là một tên tuổi lớn, nên truyện ngắn ấy chỉ xuất hiện một lần ngắn ngủi trên Văn, rồi lặng lẽ chìm vào quên lãng.

Thế nhưng suốt bao năm nay, mỗi mùa Giáng sinh về, nhớ lại truyện ngắn ấy tôi vẫn không khỏi băn khoăn tự hỏi: rồi nhân vật Hạnh sẽ ra sao? Câu chuyện giữa Hạnh và chàng trai tên Jack sẽ đi đến đâu? Cuộc sống của hai chị em Hạnh trên đất Mỹ rồi sẽ thế nào? Những câu hỏi ấy, đến nay vẫn chưa có lời đáp.
 
Boston, đêm Giáng Sinh năm 2025
 
Trương Hữu Hiền

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 500,726
Tôi sống ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ, thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Một thành phố với nhiều cảnh đẹp, rất thơ mộng, thành phố được che chắn bởi một rừng thông bạt ngàn, quanh năm xanh mướt. Một rặng núi hùng vĩ bao quanh nhiều hồ lớn, nước xanh trong vắt, là phi trường của đủ loại thủy phi cơ. Seattle còn có tên gọi rất thơ “Cao Nguyên Tình Xanh.” Ngoài ra Seattle có tháp Space Needle cao 180 mét, trên đỉnh tháp là đài quan sát, cho khách du lịch ngắm toàn cảnh, từ thành phố đến dãy núi Olympic hùng vĩ, dãy núi Reneir quanh năm tuyết phủ trắng xóa, ngắm vịnh Puget thơ mộng. Seattle còn có một thành phố chìm dưới lòng đất. Vùng đất này cũng là quê hương của nhiều ngành công nghệ lớn, như Microsoft, Amazon, và Boeing.
Sự tái xuất của bà Ấn Độ không gây xôn xao gì trong hãng, tất cả bình thường với người phụ nữ đã ngoài năm mươi, không còn sức thu hút hay gây chú ý như cô gái trẻ. Tôi chỉ biết bà là người mới qua lời sếp dặn tôi, “Ông để mắt tới bà ấy dùm tôi…” Tôi hiểu ý sếp nhờ tôi giúp đỡ cho bà ấy hoàn thành công việc. Tôi có để mắt đến bà nên chán nản vì bà chính xác là không làm được gì cả. Không biết bà có hiểu cho tôi bị sếp coi như tôi làm việc hai người chứ không còn mình ên.
Hạnh phúc là chữ được viết nhiều trong văn học và được ngườì đời thường xuyên nhắc đến. Nhưng khi hỏi: hạnh phúc là gì và do đâu mà có thì chẳng biết trả lời làm sao cho trọn vẹn. Từ xưa đến nay chưa thấy có một định nghĩa phổ quát nào về chữ hạnh phúc được mọi người đồng thuận. Có người bảo: hạnh phúc là sự mãn nguyện một ước mơ, an vui trong cuộc sống; làngười khác nói: hạnh phúc không có tiêu chuẩn, không do ban phát, không mua bán hay đổi chác mà có. Nó là một trạng thái cảm xúc từ con tim của mỗi cá nhân trong khoảnh khắc làm người ta hài lòng với những gì hiện hữu - nó rất riêng tư và phát sinh từ sự tỉnh thức của tâm hồn… Vậy, xem ra: đi tìm hạnh phúc ở tương lai với những mơ ước hay quay về quá khứ mà quên những giây phút hiện tại thì con người khó lòng bắt gặp hạnh phúc đích thực.
Huỳnh Thanh Tú là giáo viên tiểu học trước khi cùng gia đình định cư Mỹ năm 2001 tại Hoa Kỳ. Bà từng làm việc cho học khu tại Houston, Texas trước khi về hưu và dành toàn bộ thời gian làm vườn, chăm sóc các cháu, du lịch và tham gia các chuyến tham quan của cộng đồng người hưu trí tại địa phương. Tác giả tham dự VVNM với bài viết đầu tiên “Áo khoác để ngoài cửa.” Bài viết kỳ này thuật lại chuyến thăm cảng Houston với nhiều chi tiết thú vị.
Tôi từng chủ trương viết cho chương trình Viết Về Nước Mỹ theo trường phái trào phúng vì quan niệm cuộc đời đã quá nhiều đau khổ và tôi muốn các bài viết của mình sẽ đem lại một niềm vui cho độc giả. Tuy nhiên, hôm qua về thăm ba ngày Father’s Day, bỗng dưng tôi muốn đổi hệ và quyết định viết một bài theo trường phái nghiêm và buồn để nhớ về ba của tôi. Thân phụ của TG khi còn mang lon trung úy Thân phụ của TG khi còn mang lon Trung úy Khi tôi có trí khôn thì ba đã đi tù cải tạo được ba năm. Lúc ba ở các trại tù trong ba năm đầu, việc đi thăm khó khăn nên chỉ có má đi một mình. Sau khi ba chuyển về trại Suối Máu, nơi thăm nuôi tương đối dễ dàng nhất trong các trại, má cứ thay phiên dắt bốn thằng con trai đi thăm ba. Thỉnh thoảng bà nội cũng đi theo. Ba, với cấp bậc đại úy, đi tù “vừa phải” nên tôi mới “hơn” đám bạn cùng trang lứa...
Khi đến San José (Bắc Cali) theo diện H.O. vào cuối tháng 10, năm 1992, sau một thời gian ngắn, cuộc sống gia đình gồm ba người: vợ, con trai và tôi tạm ổn định. Vợ và con tôi tiếp tục đi học. Còn tôi đã xin vào làm cho hai hãng điện tử Flextronis và IBM. Công việc cuối cùng là Crossing Guard. (Hướng dẫn học sinh và bộ hành qua đường an toàn). Đây là công việc bán thời gian. Tôi đã làm hơn 17 năm. Sau đó, vì lớn tuổi, sức khoẻ giảm và không còn lạnh lẹ như trước, nên tôi không thể tiếp tục được nữa!
Đây không chỉ là câu chuyện nhà họ. Mà đâu đó, chúng ta sẽ thấy bóng mình trong đó. Trong những nhọc nhằn gian khổ bước đầu. Trong giọt nước mắt tủi thân, bất lực. Trong mơ ước nhỏ nhoi, bình dị của một con người - có một việc để làm, một mái nhà để trú, một cuộc đời hạnh phúc, an yên bên gia đình. Chúng ta sẽ dễ dàng có được sự gần gũi và đồng cảm với họ. Vì tất cả cùng một phận đời di dân.
“Xin được tự giới thiệu, tôi tên là N.D., là thông dịch viên cho H.V. hôm đó V. gọi báo cảnh sát Anh nhờ tìm kiếm anh H. Không hiểu sao có gì đó xui khiến, tên và chi tiết cá nhân của anh H. còn lưu giữ trong máy kindle của tôi. Điều rất kỳ lạ là bình thường tôi viết lên bảng điện tử rồi xóa đi, duy chỉ bữa đó tôi sử dụng kindle nên chi tiết về anh H. còn lưu lại. Sau khi dịch cho V., tôi thật lo lắng, bồn chồn, cầu nguyện cho anh H. được bình an, còn sống ở đâu đó, hay đã đi thoát trên mấy xe kia. Cầu mong sao tên anh không có trong danh sách 39 người! Thật bàng hoàng và đau xót khi cuối cùng thấy danh sách của cảnh sát hạt Essex, Anh, được công bố có tên anh H. Tôi không biết nói gì hơn là thành thật chia buồn cùng gia đình. Thắp giùm tôi nén nhang trên bàn thờ anh H., V. nha! Xin hãy nén đau thương mà sống!”
Biết được chùa Hương Đạo cần nhiều thiện nguyện viên giúp cho việc chuẩn bị Đại lễ Tam Hợp (Đại Lễ Vesak) tại Chùa Hương Đạo, vào một ngày cuối tuần, tôi có chút thời gian rảnh nên tôi đến chùa để làm thiện nguyện. Chùa Hương Đạo nằn ở thành phố Fort Worth là ngôi chùa tôi thỉnh thoảng lui tới để làm công quả. Chùa có cảnh quan khá đẹp và sạch sẽ. Trong khuôn viên chùa trồng rất nhiều cây và nhiều loại hoa khác nhau như hoa anh đào (sakura), hoa hồng, hoa râm bụt, hoa sứ, hoa cúc trắng, hoa dã quỳ...
Từ ngày về hưu, Ông Tư thong thả, nhưng buồn! Hằng tuần, vào buổi sáng thứ Bảy, sau ngày xổ số Powerball Lottery, ông thường lang thang trong khu Phước Lộc Thọ, mong tìm gặp các bạn già rủ nhau uống ly cà phê, tán gẫu sự đời, bình luận thời sự chính trị … cho qua thì giờ. Gần mười hai giờ, chia tay các bạn già, ông thả bộ vào một tiệm 7- Eleven gẩn đó mua một tấm vé số Powerball, rồi về nhà ăn trưa.
Nhạc sĩ Cung Tiến