Hồn Dâu Bể

27/08/202100:00:00(Xem: 2244)

HINH VIET VE NUOC MY

Huie Barn, Reynolds Nature Preserve. (https://www.thecrazytourist.com)

 

Tiểu Lục Thần Phong - Tác giả tên thật Nguyễn Thanh Hiền, Nickname: Steven N, Bút danh: Tiểu Lục Thần Phong, Sinh sống ở Atlanta 20 năm, Thường viết bài cho báo Chánh Pháp.

 

***

 

Những ngày tháng hạ, cây lá ở đây vẫn xanh biếc. Mây trắng lững lờ bay qua soi bóng xuống mặt hồ. Những mạch nước ngầm vẫn ngày đêm phun lên từ lòng đất mẹ, không biết những mạch nước ấy đã phun tự bao giờ, trước khi điền trang được lập thì nó đã có ở đó, sau khi điền trang mai một nó vẫn còn đây. Những vòi nước nho nhỏ nhưng trong vắt phun chưa ngừng nghỉ dù chỉ một giây, nước từ đây chảy thành một con lạch nhỏ và rồi tích tụ ở những cái hồ gần đấy. Nước từ đất mẹ phun lên, rồi chảy đi khắp nơi, lại bốc hơi bay lên với gió mây, cuối cùng lại mưa xuống và thấm vào lòng đất mẹ, cái vòng quay miên viễn bất tận này!
 
Điền trang Huie ngày xưa nay gọi là Huie Reynald Barn, nó vốn là đất đai tài sản của dòng họ Huie, rộng chừng một trăm năm mươi mẫu tây, có đủ đồi, rừng, đầm, hồ… tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hoang dã vừa có nét núi rừng vừa pha cảnh đồng quê ở giữa lòng các thị trấn: Forest park, Morrow city, Lake city. Điền trang này có từ năm 1867, ngày xưa nó là nhà ở, nông trại sản xuất của họ nhà Huie. 
 
Thời gian thay đổi, thế sự vần xoay, nhân gian biến dịch đến năm 1976 thì luật sư William Huie dời đi đến đất khác. Họ hiến toàn bộ đất đai tài sản lại cho quận Clayton để biến nó thành một công viên công cộng. Hơn một trăm năm mươi năm đã trôi qua, họ nhà Huie giờ không biết con cháu thế nào nữa, có những cây cổ thụ ở điền trang đã đổ nhưng có những con rùa lên tuổi cố còn sống đến hôm nay.
 
Huie Reynald Barn thuở ấy rất thịnh vượng, thời của những điền trang nông sản và bông gòn. Trang trại Tara của họ nhà Scarlet trong cuốn theo chiều gió cũng gần đây, cách chừng mươi dặm. Thời ấy những điền trang ở thành Ất Lăng nổi tiếng về bông gòn, bông gòn trồng khắp nơi và kết tập về cảng savannah để chở về Anh quốc hay Âu châu. Ngoài điền trang Tara của nhà Scarlet O’Hara, còn có những điền trang khác như: Điền trang Twelve Oaks của nhà John Wilkes, điền trang Mimosa của nhà Fontaine, điền trang Lovejoy của họ Munroe… Những điền trang nổi tiếng một thời, suy tàn dần sau cuộc nội chiến, sự huy hoàng của những điền trang đã cuốn theo chiều gió. Tác phẩm “Cuốn theo chiều gió” đã nói lên tất cả, ngay cái tên của tác phẩm đã hàm chứa ý nghĩa của cuộc bể dâu, tất cả rồi cũng đều cuốn theo chiều gió. Những điền trang một thời thuở ấy cũng đều không xa mấy trung tâm thành Ất Lăng này! Huie Reynald Barn ngày nay giống như một hệ sinh thái thâu gọn, có cảnh sắc núi đồi, đần, hồ rất hài hòa, yên tĩnh và nên thơ.
 
Hai mươi mốt năm trước, khi đến đây sinh sống, những ngày đầu tiên tôi đã đến với Huie Barn. Tôi thấy thích và kể từ đó đến nay, nơi này trở thành một nơi lý tưởng của tôi. Những con đường mòn quanh quất dưới rặng thông là nơi chạy bộ tuyệt vời, thỉnh thoảng gặp những con nai ngơ ngác nhìn mình từ trong bụi rậm, những con sếu cao lều khều trong đầm nước, những đàn rùa bám lúc nhúc trên thân cây thông đổ dập dềnh trong làn nước… cảnh vật ở đây trở thành một phần hồn tôi, hồn tôi đã hòa với cảnh vật. Tôi đã viết về một số địa danh khác ấy vậy mà chưa từng viết gì về Huie Barn, có đôi khi cũng cũng có ý định viết chi đó nhưng cuộc sống đời thường quá nhiều đẩy đưa, những ý tưởng mới cứ lấn lướt nhấn chìm ý định ấy, vì vậy mà tháng ngày cứ lần lữa cho đến tận hôm nay.
 
Ngày lễ Độc Lập năm nay tôi không đi chơi xa, chỉ chạy bộ loanh quanh trên những cung đường mòn ở Huie Barn. Tôi đã chạy như thế hai mốt năm rồi, ấy vậy mà hôm nay nảy sinh một cảm xúc lạ thường. Trên cung đường mòn ven bờ suối, tôi gặp một mảng tường thấp xếp bằng đá vốn đã rất quen thuộc. Tôi dừng lại nghỉ thở một tí và bỗng dưng trong tôi nổi lên một sự rung động mãnh liệt, trong tâm lập tức liên tưởng đến hai câu thơ của thi sĩ Phạm Thiên Thư:
 
“Tường thành cũ phiến bia xưa
   Hồn dâu bể gọi trong cờ lau bay”
 
Cái hồn dâu bể sao mà tha thiết quá, sao mà bàng bạc như mây bay gió thoảng, nhưng lại cũng khốc liệt vô cùng. Hồn dâu bể hiện trên từng phiến đá rong rêu, thấp thoáng nét thời gian dãi dầu trên dãy nhà kho cổ xưa, tháng năm hoen rỉ hiện hữu trên những nông cụ của Huie Barn đã một thời thịnh vượng. Hồn dâu bể phất phơ những ngọn cờ lau đồng nội, những ngọn cờ lau xa xưa của điền trang giờ vẫn phơ phất, vậy mà tôi lại như mơ những ngọn cờ lau tập trận của Đinh Bộ Lĩnh trong sử sách quốc gia. Hồn dâu bể gọi trên từng phiến đá, đường mòn, những tàng cây của điền trang. Chủ đất đã xa rồi nhưng đất vẫn còn đây, cây cỏ vẫn còn đây. Người xưa đã qua, người nay đang hiện diện trong phút giây này. Dâu bể là lẽ thường, vô thường đích thị là thường, dù biết thế nhưng hồn người không khỏi ngậm ngùi bâng khuâng. Ngày xưa, lần đầu đến Huế, tôi sờ tay lên tường thành mà rung động đến độ nổi cả da gà. Bao nhiêu cảm xúc trào dâng, lòng tưởng nhớ cảnh thiết triều, ngựa hí voi chầu, cảnh công thành đầy máu lửa giáo gươm, cảnh khải hoàn trong tiếng vọi đồng lanh lảnh… Nay, nhìn thấy những phiến đá rong rêu mà dậy hồn dâu bể trong tôi.
 
Huie Reynald Barn cách điền trang của nàng Scarlet không bao xa. Những điền trang của một thời huy hoàng trong dĩ vãng. Tôi, con dân của thành Ất Lăng, ấy vậy mà hơn hai mươi mốt năm chưa một lần ghé đến điền trang của nàng Scarlett. Tôi vẫn thường đứng tần ngần, bâng khuâng trước ngôi nhà to lớn của nữ văn sĩ Margaret Mitchell, ngôi nhà của bà nằm giữa lòng thành Ất Lăng, ở khu Midtown giàu có và sang trọng. Ngôi nhà còn đây, lịch sử chưa lâu lắm mà bóng người giờ nơi đâu? Nhìn lên những áng mây trắng bay qua mà thấy hồn dâu bể mang mang. Không biết tôi có phải là người hoài cổ hay là những ký ức trong tạng thức quá mãnh liệt, mỗi khi bắt gặp một di tích cũ, một hình bóng xưa… là tâm hồn tự dâng lên những cảm xúc rất mạnh. Những dấu tích cũ nó luôn lôi cuốn và hấp dẫn tôi hơn là những thứ hiện đại tân tiến, và cũng như thế, một cô gái mang hài hấp dẫn tôi hơn là một cô nàng mang giày cao gót (high hill). Mỗi lần đến Huie Reynald Barn, tôi có cảm giác như mình đã từng sống ở đây, đã từng là một chàng trai của điền trang này, thậm chí tôi còn mơ đã từng hái hoa dại, cỏ lá để tết làm vòng đội đầu cho cô gái xinh đẹp của mình ở điền trang này. Ngồi bên hồ nước hay ở bãi cỏ, tôi thường đưa mắt nhìn quanh như thể tìm được bóng dáng người em đội vòng hoa dại còn quanh quất đâu đây
Từ Huie Reynald Barn lái xe chừng năm tiếng là đến được cảng Savannah. Ngày xưa cảng này chuyên xuất bông gòn đi Anh quốc và châu Âu. Ngày nay con đường lát đá dọc bờ sông còn đó, trụ sở hãng tàu biển còn đây, trụ sở công ty bông gòn cũng trầm tư nhìn du khách náo nhiệt quanh đây, những lò kẹo thủ công vẫn tiếp tục làm và bán kẹo cho du khách. Đặc biệt những ngôi mộ và bia đá trong các nghĩa trang cổ gây ấn tượng mạnh cho du khách. Người ta biết cách kiềm tiền bằng cách khêu gợi sự tò mò và trí tưởng tượng của du khách, đó là những tua đi thăm nghĩa trang cổ để tìm ma, bắt ma. Savannah có rất nhiều những câu sồi cổ, thân cành bám đầy loại rêu Tây Ban Nha (Spanish moss). Nhìn những cây sồi này với hình dáng rất cổ xưa, rất ma quái kích thích mạnh nhãn quan và trí tưởng tượng của mọi người. Rêu Tây Ban Nha trên cây sồi chỉ sống được ở Savannah, tôi thử đem một mớ về thành Ất Lăng nhưng chúng trơ ra, không chết mà cũng không sống. Những cây cổ thụ của Huie Reynald cũng không có loại rêu này, dù rằng phong thổ cách nhau chỉ mấy tiếng lái xe. “Tường thành cổ phiến bia xưa” của Savannah lại càng tha thiết hơn, dấu ấn của thời gian còn đậm hơn, hồn dâu bể ở đây cũng hiển hiện rất rõ, nó man mác một chút u buồn, một chút hoài niệm dĩ vãng xa xưa. Con đường lát đá Riverside thật đúng với câu thơ của bà Huyện Thanh Quan: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.”
 
Xứ Cờ Hoa này không có chế độ phong kiến, không có vua quan nên không có những kinh đô hay thành trì cổ như ở Âu châu, Á châu. Ở đây mà nói tường thành cổ thì người ta khó mà hình dung (cho dù có xem phim ảnh). Cái bức tường nhỏ để chặn đất chuồi ở Huie Reynald Barn làm tôi liên tưởng đến “Tường thành cũ phiến bia xưa” nó cứ như là cái sa bàn trong bảo tàng, nó như hình bóng thu nhỏ  của tường thành Bắc Kinh, Huế, Angko…
 
Thành Ất Lăng có nhiều nghĩa địa cổ, có cái nằm giữa thành phố, có cái lọt giữa khu dân cư… nhưng tất cả được giữ gìn nguyên vẹn, tôn trọng bảo vệ bằng luật, không có chuyện giải tỏa, ủi phá, di dời… Người Mỹ không cần biết cái câu “Nghĩa tử là nghĩa tận” mà người Việt thường nói, nhưng người Mỹ lại làm cái việc đó rất tuyệt vời. Tôi đọc thấy có những tấm bia ghi: 1786, 1789, 1802, 1888… tất cả họ tên cũng đều nguyên vẹn không hề hư hao tí nào, duy cái màu thời gian thì không thể nào tránh khỏi. 
 
Hồn dâu bể trên từng phiến đá, phiến bia vẫn gọi, vẫn lay lắt hồn người. Những mốc thời gian trên bia đá kia tương ứng với cố quận mình là vào những năm vua Quang trung đánh giặc Thanh, Nguyễn Ánh diệt nhà Tây Sơn, thực dân Pháp tấn công kinh đô Huế… Ôi cái hồn dâu bể của tường thành cũ, phiến bia xưa sao mà gây nỗi nhớ thương ray rứt trong lòng, cái buồn man mác khi tưởng về lịch sử khốc liệt của cha ông thuở xưa, Cũng với những mốc thời gian này, Huie Reynald Barn đã có máy cày, máy kéo và các nông cụ cơ giới khác, nhưng cố quận mình thì còn ngủ mê, còn bị ngục tù bởi hệ tư tưởng Nho giáo. Cũng với mốc thời gian này nhưng nước Nhật đã canh tân theo văn minh phương Tây và họ đã thành công trong việc đưa quốc gia phát triển thành một nước mạnh và tân tiến. Ngày nay ở Huie Reynald Barn, những nông cụ này vẫn nằm ở đây để làm chứng tích cho một thời. Những nông cụ hoen rỉ năm dãi nắng dầm mưa mặc cho thời gian dâu bể đi qua. Mây trắng vẫn bay qua điền trang như trăm năm trước và vẫn mãi mãi bay qua, mặc cho thế sự thay đổi biến dịch, mặc cho vô thường dửng dưng biến thiên và dĩ nhiên là vẫn mặc cho hồn dâu bể hằn in trên tường đá phiến bia.
 
Xứ Cờ Hoa thật may mắn, kể từ sau lần nội chiến Bắc Nam đến nay cũng đã ba trăm năm. Nước Mỹ không có cuộc chiến tranh nào khác nữa, dù là chiến tranh sắc tộc, chiến tranh tôn giáo hay chiến tranh ý thức hệ. Mặc dù nước Mỹ có đủ bao nhiêu sắc tộc, bao nhiêu tôn giáo khác nhau.
 
Ngày lễ Độc Lập năm nay, thành Ất lăng như bừng tỉnh sau cơn dịch Coronavirus. Mọi người vui chơi hưởng thụ không còn bị giãn cách, pháo hoa nổ giàn trời làm cho tôi cứ ngỡ đêm giao thừa của xứ mình. Điền trang Huie nay là Huie Reynal Barn nằm mơ màng dưới tán thông xanh, cờ lau trắng phất phơ giữa đồng, bức tường đá xanh rong rêu, phiến đá, bia mộ trầm tư… tất cả như gợi hồn dâu bể một thời dĩ vãng xa xưa. Hồn dâu bể ở Huie Reynald Barn, ở điền trang Tara, ở thành Ất Lăng, ở xứ Cờ Hoa hay ở cố quận mình cho chí bất cứ nơi đâu trên thế gian này cũng đều phơ phất gọi người.
 
 Dâu bể là cái tích văn chương ngôn ngữ ngày xưa, nói theo ngôn ngữ nhà Phật là vô thường. Mọi vật, mọi việc ở thế gian này vốn vô thường, thay đổi và biến dịch không ngừng, Thời gian thay đổi, sự đời bể dâu là lẽ thường tình, vô thường chính là thường. Nếu thời đại đồ đá, đồ đồng thì sự thay đổi tính bằng vạn năm. Thời đại phong kiến tính bằng ngàn năm, thời chủ nghĩa tư bản tính bằng trăm năm và thời đại hôm nay càng rút ngắn hơn. Tốc độ thay đổi biến thiên càng ngày càng rút ngắn, thời đại kỹ thuật công nghệ cao bây giờ thì sự thay đổi càng khốc liệt và nhanh đến chóng mặt. Thành Ất Lăng sau cuộc nội chiến tang hoang đổ nát gần như bình địa, nhưng chẳng mấy chốc xây dựng và phục hồi lại để có diện mạo như hôm nay. Cuộc nội chiến đã tàn phá kinh khủng và hàng trăm ngàn người chết chóc đau thương. Những điền trang sau đó cũng dần lụi tàn như lá hoa cuốn theo chiều gió. Tổng thống Abraham Lincoln đã tuyên bố giải phóng nô lệ, trả lại tự do cho người da đen. Đây là một cuộc đổi đời cho hàng triệu nô lệ da đen. Cuộc bể dâu nào mà không có những đau thương, những cuộc nội chiến Bắc Nam Mỹ không chỉ có đau thương đổ nát, nó đã đem lại tự do và quyền sống cho hàng triệu nô lệ da đen. Sau cuộc nôi chiến Bắc Nam ấy, thì những cuộc tuần hành xuống đường đấu tranh cho quyền bình đẳng và nhân quyền do Martin Luther King dẫn đầu là sự kiện lớn vĩ đại, phong trào này chấn động và ảnh hưởng sâu sắc cả thế giới, toàn nước Mỹ nói chung và thành Ất Lăng nói riêng. Người da đen một lần nữa đứng lên tranh đấu cho quyền sống, quyền bình đẳng và nhân quyền nói chung. Thời gian vẫn thấm thoát qua nhanh, tựa hồ như mây bay gió thoảng, sóng sau đè sóng trước, cuộc bể dâu này lắng thì cuộc bể dâu khác lại khởi lên, thịnh suy cứ tiếp nối quay vòng. Năm 1996, Thành Ất Lăng được vinh dự tổ chức đại hội thể thao Olympic, một lần nữa thành Ất Lăng được toàn thể loài người hướng mắt về để theo dõi những cuộc tranh tài thể thao, đi cùng với sự kiện này, bao nhiêu công trình mới mọc lên như xa lộ 20, công viên Olympic, sân vận động Olympic, những tòa nhà phát triển quanh vùng Metro… Huy hoàng là thế, nổi danh như vậy nhưng chỉ chừng hai mươi năm sau thì tất cả lùi vào dĩ vãng, sân vận động mới ngày nào là nơi tranh tài của hàng vạn lực sĩ khắp năm châu, vậy mà giờ đây nó đã không còn là nó nữa, sân vận động đã bán đi để phục vụ những công việc khác. Người có lòng hoài cổ không khỏi ngậm ngùi, hồn dâu bể không khỏi phơ phất gọi người, dầu rằng tường của sân vận động chưa kịp phong hóa xanh rêu, phiến đá viền sân chưa kịp mòn. Cuộc bể dâu thay đổi nhanh quá, lẽ vô thường bây giờ xảy ra với tốc độ nhanh không ngờ. Có lẽ thời đại của kỹ thuật số, của xe bay, phi thuyền không gian, mạng internet 5G… nên vô thường dường như cũng đổi thay tốc độ của nó để kịp với thời đại mới.
 
Thành Ất Lăng không có phố Tàu như Nữu Ước, Cựu Kim Sơn. Thành Ất Lăng cũng không phải là trung tâm tài chánh như Nữu Ước, càng không phải là nơi quyền lực trung ương như Hoa Thịnh Đốn… Thành Ất Lăng không có cảnh quan thiên nhiên đẹp nhưng lại có một sức hút lạ thường, phải chăng cái hồn dâu bể phơ phất gọi người? Những dấu tích của một thời nội chiến xa xưa vẫn còn đây, những vùng đất đã xảy ra những trận chiến đẫm máu vẫn còn đây, những điền trang của một dĩ vãng huy hoàng vẫn nằm mơ màng dưới trời xanh mây trắng. Hôm nay thành Ất Lăng nói riêng và nước Mỹ nói chung đang xảy ra dấu hiệu một cơn bể dâu khác, đó là phong trào đập phá, giật sập hay hạ bệ những pho tượng, phù điêu kỷ niệm một thời nội chiến. Trước khi xảy ra phong trào BLM thì những pho tượng và những phù điêu kỷ niệm thời nội chiến là biểu tượng của sự hòa hợp hòa giải, biểu tượng của tinh thần anh hùng mã thượng, biểu tượng của lòng khoan dung. Những vị tướng hay chiến binh của hai miền Nam Bắc đều được tôn trọng, không phân biệt kẻ thắng người thua… Nhưng bây giờ người ta lấy cái quan điểm của thế kỷ hai mươi mốt áp đặt vào hoàn cảnh của thế kỷ mười chín, để từ đó đòi hạ bệ phá hủy hết những vết tích lịch sử một thời. Buồn không hỡi người? Bể dâu chồng dâu bể, cuộc nội chiến qua đi đã mấy trăm năm, dâu bể đã lắng yên, giờ thì khởi lên cơn dâu bể mới để phá cho hết những vết tích còn lại của cơn dâu bể năm xưa. Biết làm sao được? Dâu bể vốn là lẽ thường, vô thường chính là thường vậy! Những cơn dâu bể đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ tiếp tục xảy ra, dù cho những cơn dâu bể có như thế nào đi nữa thì những phiến đá xanh rêu, mảng tường cũ, ngọn cờ lau phơ phất vẫn lay lắt gọi hồn người.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 208,350
Khi Lisa càng lúc càng nghi chồng nàng có thể làm những chuyện đen tối sau lưng mình, Lisa nhất quyết phải tìm cho ra bằng chứng để chứng minh sự nghi ngờ của mình. Từ một mảnh giấy vụn Jerry vất vào xọt rác, nàng tìm thấy mật hiệu để vào máy vi tính của Jerry tìm đọc, xem những thư từ, hình ảnh chồng mình cất giấu từ bao năm qua. Trước đây nàng không nghĩ là mình cần phải làm những điều như vậy, nhưng đến nước này thì sự cần thiết cho một giải thích chính đáng đã khiến nàng vượt qua sự tò mò thông thường của các bà vợ theo dõi chồng mình. Sau một hồi lục soạn bao nhiêu danh mục riêng của Jerry, Lisa không tin mắt mình khi nhìn thấy một tấm hình làm tan nát tim nàng. Quả là nàng đoán không sai, người chồng mà nàng từng tin tưởng tuyệt đối nay lại có thể làm những điều tệ hại như thế này sao!
Đặc biệt sau biến cố năm 1975, dân chúng Việt Nam tỵ nạn được đồng minh và chính quyền Mỹ cho phép định cư vĩnh viễn trên đất nước dân chủ hòa bình tự do bình đẳng cuả họ, thì không chỉ phụ nữ được giaỉ phóng mà ngay cả những mớ bòng bong thời cổ, những rắc rối phiền toái thời phong kiến cũng không cánh mà bay vào dĩ vãng, chẳng ai phải tốn một viên đạn nào, chắng cơ quan xã hội, tự do dân chủ nào phải tổ chức hội họp tuyên truyền biểu tình mít tinh đòi hỏi, chống đối! Tự nó ngoan ngoãn đi vào ngăn cất của thời gian một cách nhẹ nhàng! Những ai còn cố chấp, sẽ bị chính bản thân họ dày vò, bất mãn, bất an, sầu đau, tủi phận…và bị xã hội đào thải, gia đình buông bỏ, sống một mình cô đơn ôm nuối tiếc cho một thời oanh liệt, vàng son đã qua… chờ ngày ngậm ngụi nơi chín suôí!
Tôi có nhân duyên được trang chủ Minh Châu Trời Đông gồm chị Ngọc Hà và chị Đỗ Dung làm moderator và Cô Gái Việt là bà bầu Phương Thuý mời gia nhập hội. Đặt biệt hai hội này dành riêng giới phụ nữ, chị em sinh hoạt tâm tình, làm thơ nối đuôi chung đề tài nào đó hoặc vốn liếng thơ văn, nhạc rất dồi dào, gởi cho nhau đọc và nghe giải trí. Tiếp theo tôi được chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc là chị Hồng Thuỷ mời nhập hội viên, từ đó tôi quen chị Phan Lang, một phụ nữ Việt Nam đầu tiên gia nhập quân đội Mỹ với chức vụ Trung Tá, người đàn bà tài sắc vẹn toàn.
Hơn năm nay dịch cúm Covid 19 hoành hành khắp nơi, ở Hoa kỳ và các quốc gia khác trên thế giới, nơi nhiều nơi ít. Vùng Hoa Thịnh Đốn lúc đầu chính quyền khuyên dân không nên tụ họp đông người, ra đường phải mang khẩu trang và cách xa nhau 6 feet. Nhà thờ, chùa, tiệc cưới hay ma chay cũng giới hạn số người tham dự. Tiệm ăn vắng khách. Phần lớn họ mua thức ăn và mang về nhà, tiệm ăn không cho thực khách ăn trong tiệm. Có nhà hàng đóng cửa vĩnh viễn vì không chịu nổi các phí tổn, lương nhân công, tiền thuê cửa hàng...
Tuần trước, Tina bạn tôi ở Washington, Mỹ, gọi về thăm. Bạn ấy báo tin mừng là cô con gái rượu T. vừa tốt nghiệp cấp III mùa Hè năm nay đã được một trường đại học danh tiếng ở Mỹ nhận và cho học bỗng toàn phần bốn năm đại học. Tôi nghe mà thật hảnh diện và mừng giùm cho cháu. Học bỗng toàn phần là điều mà rất nhiều sinh viên kể cả Út của tôi, mơ ước được có, nên tôi rất hào hứng chúc mừng cho bạn và cháu T. Nhưng tôi không ngạc nhiên chút nào, vì vốn dĩ bé T. rất ngoan hiền và học thì rất giỏi.
Cái tin cô bạn cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Phạm Phan Lang (Thực sự thì Phan Lang đã nhận quyết định thăng chức Đại Tá trước khi giải ngũ) từ xứ du lịch bờ biển Hạ Uy Di dọn về California làm nức lòng bè bạn khắp nơi trên đất liền. Nhóm Bắc Cali toàn nữ chúng tôi và Phan Lang cũng đều là thành viên của Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), Văn Bút Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Cô Gái Việt, và Minh Châu Trời Đông, vui mừng điện thoại cho nhau ơi ới mỗi ngày, bàn tính rôm rả chuyện đi Nam Cali thăm nhà mới của “Đứa con gái cưng Mỹ Quốc” nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Hoa Kỳ, cũng là “Hậu duệ Hai Bà Trưng Triệu Việt Nam” là những câu chúng tôi thường gọi đùa người bạn gốc quân nhân này. Và tôi bắt đầu tính chuyện làm thơ, để chị Đỗ Dung viết thư pháp Chúc Mừng Tân Gia.
Hội chứng mặc cảm này chỉ cách đây khoảng chừng một năm, khi còn trong thời gian phải giữ khoảng cách vì dịch covid. Hôm đó tôi nghe tin người bạn bị một bà da trắng ngồi xe bên kia, cũng đang chờ đèn đỏ, ra dấu hạ kính xuống, cô ta không hiểu mô tê gì nên hạ kính xuống thì được nghe là “Mày cút về Tàu đi!” Rồi không lâu sau, tôi đọc facebook thấy em trai của người bạn của Bố tôi bị tấn công khi ông đi bộ trong khu gần nhà ở Bắc Cali, Ông bị thương tích nặng phải vào bệnh viện.
Tính đến nay, ông Hiền đã định cư ở Mỹ trên hai mươi lăm năm, theo diện HO. Chúng tôi quen nhau từ khi gia đình ông đến ở cùng một khu chung cư. Ông hiền như cái tên cha mẹ ông đặt để. Trước năm 1975, vợ ông làm cô giáo - tốt nghiệp trường Sư phạm Qui nhơn. Ông bà có bốn đứa con trai. Có lẽ đã quen với lối sống chừng mực và lễ giáo nên bà đã dạy dỗ mấy đứa con đi vào nền nếp, học hành chăm chỉ và rất lễ phép làm cho mọi người trong chung cư đều quí mến. Riêng gia đình tôi và gia đình ông Hiền kết thân từ dạo mới quen biết nhau.
Lễ phát giải thưởng và ra mắt sách Việt Báo Viết Về Nước Mỹ năm 2020-2021 - gồm những bài viết được phổ biến từ 1 tháng Bẩy 2019 tới 30 tháng Sáu 2021 - được quyết định tổ chức vào Chủ Nhật 5 Tháng Mười Hai 2021, và 16 tác giả sẽ nhận các giải thưởng.
Tú được giữ lại trường học thêm một năm bổ túc để dạy lại đại học năm thứ nhất. Chuyện này cũng chỉ xảy ra tại chế độ XHCN. Ngày xưa các giáo sư dạy đại học đều có bằng cao học hay tiến sĩ, và nếu dạy bộ môn ngoại ngữ thì tất cả đều tốt nghiệp tại những trường danh tiếng tại nước ngoài. Đến thời xuyên tâm liên chữa bá bệnh và rau muống bổ hơn thịt bò thì sinh viên tốt nghiệp “quốc nội” như bọn Tú cũng được đưa lên dạy lớp đại học, có sao đâu!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.