Hôm nay,  

Sơn Hào Hải Vị Không Bằng Mùi Vị Quê Hương

4/8/202500:00:00(View: 4656)
bo-sach-vvnm 
Tác giả Việt An sinh năm 1976, qua Mỹ năm 1993, định cư ở Austin, Texas. Cô từng là kỹ sư điện tử ở Intel, nay là nhân viên của bộ Ngân khố, đồng thời là thông dịch viên tự do. Sau bài viết đầu tiên “Giấc Mơ Mỹ”, cô tiếp tục đóng góp cho Viết Về Nước Mỹ bài bút ký hồi tưởng về các món ăn dân dã thuở ấu thơ mang đậm mùi vị quê hương.

***

Lắm lúc, trong cuộc sống xa quê, có những mùi vị đặc thù của tuổi thơ tự nhiên ập về, đi kèm với bóng dáng của những người thân làm ra món ấy. Ví dụ như khoai lang lùi tro, bánh ít ngọt nhân đậu, bánh ít lá dứa nhân dừa, bánh tét nhân ngọt, nồi thịt kho tàu, xôi vò của bà Ngoại làm là ngon nhất; Bánh bèo, bánh bò hấp, bánh da lợn ăn với nước cốt, bánh ít trần, bánh bèo mặn ăn với nước mắm hay món giò heo giả cầy thì chỉ có Nội-Bà Bảy là số một. Ổi xá lỵ Florida cũng không thơm ngon bằng vườn ổi của Bà cô. Còn nữa, món cháo lòng của bác Tư Nhỏ cũng làm tôi nhớ đời. Tất cả những mùi vị món ăn của tuổi thơ luôn tồn đọng trong ký ức. 
 
Bỗng dưng, tôi sực nhớ mùi ngọt lịm của khoai lang tím lùi thủa nào. Tiềm thức trỗi dậy, thôi thúc tôi xách xe chạy đi H-Mart, mua khoai lang. Lựa khoai xong, thấy có một xe đẩy ghi “Roasted Sweet Potato” - Khoai lang nướng! Khứu giác tôi làm việc tối đa: 

- A!  Cái mùi gì hửi quen quen trong không khí vậy ta, quen lắm?  
 
Vừa mở cửa ra thì đúng là khá giống mùi khoai lang lùi của tuổi thơ. Khoái chí tử, tôi chụp ngay một bịch đem về cho bé Việt Khuê ăn thử, em ấy ăn thấy ngon. Mẹ kể cho em ấy nghe đây là mùi khá quen thuộc của tuổi thơ của mẹ, hôm nay nó chợt sống dậy! Mà hình như không hẳn là mùi của tuổi thơ mẹ con ơi, tuy nó giống lắm, rất giống!  
 
Mẻ khoai lang tím tôi mua hôm nay sẽ chia làm hai: Một nửa hấp và nửa còn lại sẽ nướng để tìm lại mùi khoai lang lùi tro, trong lò chiên không dầu (air fryer), để lửa khoảng 350-375 độ F, trong khoảng 40-45 phút. Cũng không phải! Không thơm bằng mùi vị của tuổi thơ tôi! Hơi thiếu cái vị khen khét.  Ăn “đỡ ghiền” thì được! Phải chăng mùi thơm của rơm, được bàn tay của người nông dân Việt Nam cần cù, khắc khổ chăm chút, đã góp phần làm nên mùi vị đặc trưng của khoai lang lùi tro thuở trước?

Khoai lang nuong
Khoai lang nướng trong lò chiên không dầu (hình tg cung cấp)
Rồi tôi lại kể cho các con nghe:

- Các con biết không, hồi nhỏ, bà Cố sai mẹ nấu cơm bằng rơm. Mẹ bỏ củ khoai vô bếp rơm lùi rồi khi khoai chín, lấy ra, lột vỏ, vừa thổi vừa ăn. Ôi chao ơi là ngon! Lúc người ta đói ăn cái thứ gì cũng thấy ngon cả!

Việt Khải (con trai thứ của tôi) trố mắt hỏi:

- Mẹ vừa nói gì? Rơm ngựa ăn đó hả?

- Đúng đó con. Thời những năm 80, nhiều người Việt Nam chúng ta dùng rơm đốt thành lửa để nấu cơm.

- Sao có thể được chớ? Không thể tin được.  Việt Khuê bồi thêm.

- Chuyện có thật 100% đó con.  Mẹ phân bua.

Đứa nào cũng xoe tròn hai con mắt! Chắc chúng cũng tin vì Mẹ ít khi đùa giỡn trong những chuyện kể về quê hương. Tôi cố gắng mua khoai lang ăn thường xuyên để ngăn ngừa ung thư. Ngoài khoai lang, lúc đi chợ tôi còn mua bánh bò, bánh ít, bánh da lợn, lắm lúc ổi, để các con biết các loại bánh mà Nội làm bán để nuôi Ba và các cô tôi (vì ông Nội mất sớm khi cô Út được vài tháng tuổi), cũng để nhớ mùi vị quê hương. 

Gọi là ăn đỡ thèm thì đúng hơn nhưng không bao giờ tôi tìm lại được mùi bánh của Nội và mùi ổi thơm lừng trong ký ức từ vườn ổi bà Cô.  Ổi xá lỵ ở Mỹ lớn trái; ổi họ bán trong Costco thì thơm lắm nhưng không ngọt bằng ổi sẻ trong vườn bà Cô.  Lần nào cũng như lần nào, hễ thấy ổi là vườn ổi thơm lừng trong ký ức cứ dồn dập, đổ xô về như một thước phim quay chậm…

Bà Cô là chị em chú bác ruột của ông Nội tôi.  Nhà bà ở chênh chếch nhà tôi, cách cái mương đào và một con lộ. Gần 40 năm, vườn ổi có tiếng chim kêu ríu rít thường xuyên xuất hiện trong giấc mơ của tôi!

Nhà bà trồng đủ loại ổi: Ổi xá lỵ, ổi sẻ, ôi thôi nào là ổi, ruột trắng có, ruột đỏ có, cơ man là ổi. Ổi sạch cả!  Bà trồng ở cháy trên, cháy dưới, sân trước, sân sau.  Có những cây ổi lâu năm người leo lên được, những cây nhỏ thì phải có cây thọc. Cây thọc bằng trúc chẻ ở một đầu, độn hai miếng sắt tròn cho nó rộng ra thành cái rổ, cắt chỗ hở lớn bằng trái ổi rồi đưa lên cuống vặn, trái ổi xá lỵ rớt vô gọn lỏn trong đó.  
 
Bà Cô hay nhờ Hiếu hoặc tôi  hái ổi với Bà rồi cân  bán cho những người tới nhà mua, hoặc đem lên xóm chợ cân cho cô Ba Mành bán. Tôi và Hiếu được bà cho tiền.  Bác Ba Vịnh, con trai một của bà, rất có hiếu. Những năm cuối đời, Bác từ Sài Gòn về ở với Bà để tiện việc chăm sóc Bà.  Bà Cô ăn chay trường còn bác Ba thì nấu ăn ngon hết sẩy. Khi qua chơi gặp bữa, Bà và Bác hay bảo tôi ăn. Quả thật, người ta bảo ăn cơm khách lúc nào cũng ngon miệng hơn cơm nhà là đúng y, không sai một chữ.  Cơm nhà bà là cơm gạo nàng thơm trắng phao, thơm phức, cùng với chén kiểu cũng trắng tinh, có mấy hàng bông hường hường và đôi đũa mun, nội ăn cơm không là đủ ngon rồi, khỏi cần đồ ăn chi cả. Tôi còn nhớ lúc ăn cơm, Bà Cô và bác Ba hay để một chén cơm và đôi đũa cúng cô Tư, là em của Bác, người con đã mất sớm của Bà.

Bà Cô hay xách rổ, tôi thì cầm cây để hai bà cháu hái ổi. Bà luôn mặc áo bà ba trắng tinh, với đầu tóc bạc phơ cùng một búi tóc nhỏ tí ti đằng sau gương mặt có thật nhiều đồi mồi vì đã cao tuổi. Nhiều lúc thèm quá, tôi xin “bà Cô cho con ăn một trái nha”, có đôi lúc Bà cho ăn trước khi tôi xin. Hái xong, bỏ ổi vô rổ rồi cân bán.

Mùa ổi chín thơm lừng cũng thu hút muôn loài chim về ăn rồi kéo nhau ríu rít làm ổ. Tôi nhớ có lần thấy chúng xây ổ ở mái trên của mặt tiền nhà. Có những trái ổi trên cây, phía ven bờ hoặc ổi ruột đỏ chim ăn lở dở, rớt xuống mương, nổi lềnh bềnh. Lâu lâu có mấy con cá cửng, cá lóc trồi lên mặt nước đớp mồi nghe một cái “tốc”.

Khi Ba tôi đi tù cải tạo về, tôi bị hội chứng xa lạ với Ba (stranger anxiety) vì cả đời không gần gũi hay sao ấy.  Tôi không hề tới gần và chỉ kêu “Bờ-a” thay vì kêu“Ba”. 

Thế là bà Cô cho Ba những trái đu đủ, trái ổi mang về để lấy lòng con gái. Từ đó tôi mới gần gũi với Ba hơn. Con nít dễ bị dụ hay chính phụ tử tình thâm lâu ngày, khởi đầu bằng những trái ổi của bà Cô, hay cả hai, đã kéo tôi lại gần Ba hơn?
Ngoài sau nhà Bà Cô còn có cỏ mực, tôi được kể lại là mỗi lần tôi bị cảm sốt, bà Nội qua nhà bà Cô hái về, đâm nát ra và pha nước cho uống vì thời đó ở Việt Nam không có đủ thuốc. 
 
Gần 40 năm trôi qua, vật đổi sao dời, vườn ổi của bà Cô vẫn luôn thơm lừng trong ký ức của tôi! Nhớ Bà Cô cùng vườn ổi đã cho tôi một tuổi thơ với những kỷ niệm đẹp, sẽ thơm lừng cho tới nhiều đời sau!

Món kế tiếp của quê hương là cháo lòng. Nói về cháo lòng ở Mỹ, ăn cũng đỡ thèm thôi nhưng không qua mùi cháo lòng của bác Tư Nhỏ ở chợ Thâm Nhiên của tuổi thơ tôi. Có lẽ mùi cháo của Bác Tư ngon đặc trưng và thơm mùi đặc biệt trong ký ức mà sau này tôi không bao giờ tìm lại được. Hàng cháo lòng bác Tư Nhỏ ở phía trên, kế Lộ Đất.  Tô cháo lòng của bác Tư chỉ đơn sơ, lỏng lẻo, chỉ vài cụt huyết, dồi trường, vài lát ba rọi, thêm miếng chanh xanh xanh, vài lát ớt đo đỏ, dĩa giá trăng trắng, vàng vàng nhưng đó là những tô cháo ngon nhứt đời của bọn trẻ quê tôi. Một người bạn thuở thiếu thời của tôi, bạn Quí, cũng từng công nhận điều này.  

Tuổi thơ tôi rất thiếu thốn về vật chất nhưng đầy ắp tình thương, tình người. Giờ đây, với cuộc sống của người xa xứ, lại thiếu một vùng trời quê hương, xa vắng cả những người thân. Xa quá! Nhớ quá! Những người xưa lần lượt đã thành người thiên cổ: Nội, Ngoại, rồi dì Hai, cậu Năm… Những cô, dì dượng khác đã lưng còng, tóc bạc, nếp nhăn như dấu vết thời gian chồng chất trên tấm thân già yếu, bịnh tật! Thương lắm! Thời gian thật tàn nhẫn và vô tình, không thiên vị một ai.

Những mùi vị tuổi thơ nay đã càng xa hơn nữa vì tôi cũng sắp “ngũ thập nhi, tri thiên mệnh” - năm mươi thấu mệnh Trời rồi còn gì! Duy chỉ còn ký ức đẹp của một thời tuổi thơ vẫn còn tồn đọng mãi trong tôi. Có những câu chuyện về quê hương vẫn râm ran trong bữa cơm gia đình cho thế hệ kế tiếp; tôi sẽ truyền lại con cháu tôi, thế hệ thứ ba và sau nữa: Ngày xửa, ngày xưa… Ký ức về quê hương Việt Nam sẽ không bao giờ bị quên lãng.  Nó đã được chính thức lưu truyền thành văn bản qua đây!  Tôi cũng được đi nhiều nơi, thưởng thức được nhiều đồ ăn, đôi khi cao lương mỹ vị cũng có, nhưng sao lại không nhớ, không thèm một cách mãnh liệt như những món ăn trong tiềm thức? Phải chăng “chốn quê hương đẹp hơn cả”, như một bài tập đọc trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà có lần tôi đã đọc trên channel của mình, Tiếng Việt Sử Việt?

Những mùi vị thân thương của quê hương này không biết các con tôi có ngửi và cảm nhận được như tôi? Cứ mỗi lần thoáng ngửi được là hình bóng quê hương như ẩn, như hiện ra trước mắt. Có phải nỗi nhớ quê hương này thế hệ Ba Mẹ tôi cảm nhận được nhưng khắc khoải hơn, quay quắt hơn, da diết hơn gấp bội phần? Thế hệ của họ và cả của chúng tôi sẽ nằm lại trên quê hương thứ hai, nơi chốn tạm dung này. Hương hồn của họ và của cả thế hệ chúng tôi, khi mất, sẽ được quay về thăm lại cố hương, nơi chôn nhau cắt rún? Mong lắm thay!
 
Việt An
9 tháng 3 năm 2025
 
 
 

Reader's Comment
4/8/202515:56:31
Guest
Cảm ơn tác giả một bài viết hay.
Send comment
Off
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Your Name
Your email address
)
Add a posting
Total View: 501,123
Thật khó ngờ rằng, bước vào tuổi nghỉ hưu, tôi vẫn còn dịp lo liệu cho tuổi già của bố mẹ. Chính trong những ngày ấy, tôi bắt đầu nghĩ về tuổi già, không của ai khác mà của chính mình. Khi va chạm với thực tế, tôi thấy hình bóng tương lai của mình trong từng chi tiết nhỏ: nào khó khăn lúc bước vào trong xe, nào không thể tự mặc cho mình manh quần tấm áo. Tôi là con cả trong một gia tộc đông anh em. Dù đã sống trên đất Mỹ lâu hơn khoảng gần ba mươi năm so với thời gian tôi từng sinh sống ở quê nhà, tôi vẫn giữ lối nghĩ của người Việt: phận làm con là phải chăm sóc cha mẹ lúc xế chiều, như một phần máu thịt, chẳng cần ai nhắc. Có lúc đứng một mình, tôi tự hỏi rằng đã sẵn sàng cho vai trò đó đến đâu, và câu trả lời luôn dẫn tôi về với trách nhiệm không thể thoái thác. Dẫu tôi có đến bảy đứa em và mấy chục đứa cháu, tôi vẫn coi phần chính của bổn phận ấy thuộc về mình.
Căng Thẳng! Hôm nay thiệt tình căng thẳng quá! Trường lớp đã tan. Một trăm mười một ông thầy Papua New Guinea (PNG) đã lục tục kéo nhau về nhà, nghỉ lễ gần ba tuần rồi. Nhưng văn phòng ông giáo vẫn mở cửa từ sáng sớm đến đêm khuya, bởi chấm điểm thi, cộng điểm các lớp, lên bảng điểm để gửi về các đấng bậc của mười một địa phận trên toàn quốc. Trong khi thiên hạ tà tà đi chơi khắp nơi, ăn khoai lang heo nướng, uống bia SP địa phương, bụng ai nấy tròn vo, thì đèn trong phòng ông giáo vẫn sáng. Ông vẫn ăn khoai, vẫn khù khụ ho lao, vẫn cặm cụi bút đỏ chấm chấm gạch gạch bài luận, vẫn cộng điểm, vẫn bạc mái tóc, vẫn mình hạc xương mai. Trời PNG cuối năm lại mưa bão liên miên. Mưa biến con đường chạy bộ thành bùn lầy, thế là mặt mũi ông giáo chương to như con bò chết sình hơn ba ngày nằm bên vệ đường. Căng thẳng đủ điều, nhưng ông giáo vẫn không quên lễ Tạ Ơn, Thanksgiving 2025.
Tôi đến với “Viết Về Nước Mỹ “muộn màng, khi tóc đã điểm bạc, khi đã đi quá nửa đời người và khi trái tim tưởng chừng như đã chai mòn trong cuộc sống bận rộn, bôn ba nơi xứ người. Thế mà chính nơi đất khách này, giữa những mùa thu lá rụng của Silicon Valley, tôi lại tìm thấy một lối đi mới - con đường của chữ nghĩa, của ký ức, của hoài niệm và của những điều không thể nào quên.
Cuối tuần vừa rồi, gia đình tôi lại đưa cậu con trai trở về khuôn viên Đại học James Madison, sau gần một tuần nghỉ lễ mùa thu. Con đường I-64 hướng Tây vẫn đẹp như thuở nào. Những triền đồi nhuộm vàng, đỏ, cam… đủ mọi sắc lá của buổi đầu thu, rực rỡ và lãng đãng trong nắng dịu. Tôi vẫn yêu con đường này, như đã yêu từ lần đầu khi đi qua, cách đây đã hai mươi sáu năm. Ký ức bỗng ùa về như gió thu chạm khẽ vai áo. Hồi đó, tôi chỉ là một cậu sinh viên năm thứ hai xa nhà. Cũng vào một kỳ nghỉ lễ, anh bạn Mai Thọ Triều rủ tôi về nhà anh ở Roanoke chơi. Đó là lần đầu tiên tôi biết đến cung đường I-64W rồi I-81S, và cũng là lần đầu tiên tôi đến Roanoke. Từ dạo ấy, tôi yêu thành phố nhỏ nằm giữa lòng núi ấy, và đã từng viết về nó trong bài tùy bút "Roanoke, (Virginia) và Buổi Chiều Gió Lộng."
Cứ đến gần cuối năm thì hầu hết nhân viên sở làm nào cũng đều thi nhau bứt tóc bứt tai viết ra “chỉ tiêu” cho năm mới, chúng phải hấp dẫn hơn năm cũ, và phải khớp với dự án phát triển của công ty. Mỗi người mình khi sang tuổi mới chắc cũng làm tương tự: sẽ lên danh sách cho mình vài “món quà” để cố gắng đạt đến. Thêm một chiếc xe hay thêm một cái nhà? Nhẹ nhàng hơn là tập thêm một môn thể thao nào đó hoặc bỏ đi một thói quen không còn thích hợp? Giỏi hơn nữa là bớt ăn đường, bớt ăn mỡ, hoặc bớt đi shopping, bớt đi happy hour? Tập sống lành mạnh hơn, tập tiết kiệm…Hồi tháng trước, tôi đã thực hiện được mong ước viếng thăm Bhutan, đất nước nơi sự giàu mạnh được đo bằng chỉ số hạnh phúc của người dân. Sau một tuần thăm viếng những địa điểm đặc trưng và quan sát đời sống và văn hóa của người dân Bhutan,… tôi sang thăm Ấn Độ. Nơi đây vì sự phân chia giai cấp vẫn còn triệt để nên số lượng người nghèo khó và bệnh tật khá lớn, mạng sống thấy nhẹ như rơm…
Mùa hè nóng nực đã qua, mùa thu đến mang theo thời tiết ôn hòa mát mẻ khắp nơi. Tuy nhiên khí hậu tại các tiểu bang Hoa Kỳ không hoàn toàn giống nhau. Có nơi lạnh, lá cây thay màu từ xanh thành vàng cam hay đỏ. Nơi nào lạnh ít lá hãy còn xanh. Lá cây trên vùng núi thay màu sớm hơn ở các đô thị. Tại Vùng Fairfax, Virginia lá hãy còn xanh và tại Canada phần lớn lá đã thay màu. Các bạn bàn nhau từ mấy tháng trước, rủ đi Canada bằng du thuyền xem lá vàng, thật ra là để đổi không khí trong 10 ngày. Cả năm qua các bạn chưa đi xa. Trước kia khi mới nghỉ hưu các bạn thường đi viếng thăm nơi này nơi nọ bằng du thuyền, không đi đường bộ vì ngại chờ đợi ở phi trường đông đảo. Là những người cao niên, họp mặt được lúc nào thì vui lúc ấy. Chẳng biết ai sẽ ra đi trước và không bao giờ trở lại chỉ để thương nhớ cho người thân. Điều đó bình thường như lá vàng rơi rụng vào mùa thu.
Suốt tuần ni, bắt đầu từ ngày 27 tháng 10 đến chừ, tôi chỉ muốn lên mạng nhìn hình ảnh Huế lũ lụt và gọi điện thoại người chị tên Giang, nhưng rất khó khăn vì nhà bị cúp điện. Tôi nghe chị kể: Sau khi tôi gởi số tiền từ cô em chồng tên Tịnh Tâm cùng mấy chị em hùn phước về BS Đặng Nga và nhóm chị Nhuỵ (NTN) nhờ giúp bão lụt. Chị tôi đã đến nhà chị Nhuỵ và nhóm sắp xếp tiền vào phong bì 200k, bỏ sẵn sàng mỗi bao gồm bịch gạo 10 ký, thùng mì gói và vài thứ khác. Nhóm đã thuê xe và chuẩn bị lên đường vào ngày thứ hai 27 tháng 10 (đầu tuần) về làng Phong Điền tổ chức phát quà tại Chùa. Không ngờ tối đó mưa bão, đài loan báo tin tức hôm sau lụt sẽ vào Huế. Cả nhóm cancel chuyến đi thì trưa ngày đó nước vào nhà. Mức nước chảy cuồn cuộn lên thật nhanh cho đến tối. Cháu trai tôi bước xuống nhà nước ngập ngang cổ, còn những nhà thấp hơn thì xem như lấp đến mái nhà.
Đất trời Arizona giữa tháng 9 vẫn như một chảo lửa. Ông trời dường như đang mê tu luyện môn “Cửu Dương Thần Công”, phóng hỏa lực ba con số xuống cõi hồng trần. Bầu trời xanh lơ mà mặt trời như ngủ quên, vẫn đều đều rải xuống trần gian cái nắng nóng đến nhão cả người, vạn vật như chảy ra thành một chất lỏng đặc sánh; con người rũ rượi, nhễ nhãi mồ hôi, hằng ngày vật vã bên cái máy “ây-xi” ráng sống sót, mong hạ đi, đón thu về. Nhóm Bút Tre bèn quyết định chạy trốn lên vùng cao, lên tận Hoàng Thạch Sơn, tức Núi Đá vàng, Yellowstone National Park.
Các con của tôi đều học trường Tiểu Học Công Lập miễn phí của chính phủ, lên trung học hai đứa đều học trường tư Albert Demin của giáo hội Công Giáo tại thành phố Nogent sur Marne, bên cạnh Le Perreux Sur Marne nhà của chúng tôi an cư từ năm 1997. Hai nhóc của tôi bắt đầu học tiếng Anh từ lớp Sáu, đến lúc thi tú tài hai đứa đã rành tiếng Anh cả hai đậu tú tài hạng ưu (mention Bien). Sau khi đậu tú tài, Duy Hải (DH) học khóa dự bị hai năm (classe préparatoire) chuyên toán, Lý, Hóa nếu không thi rớt mới được ghi danh thi tuyển vào các Đại Học lớn của Pháp (Grande Ecole) mỗi năm chỉ nhận vài trăm sinh viên thôi. Học sinh đã qua lớp chuyên toán điểm toán, lý, hóa xê xích nhau vài điểm thôi, để lọt vào vòng chung kết thí sinh phải làm bài luận văn (Dissertation) và thi tiếng Anh.
Năm 2025, người Việt gốc Mỹ kỷ niệm 50 năm định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng sẽ có thêm một kỷ niệm định cư tại Seattle được nửa thế kỷ. Nửa thế kỷ đã qua, những người đến sau, những người mới qua, không tưởng tượng được mọi chuyện đã có thể thay đổi như ngày hôm nay: Một “Việt Nam Mới”. Bây giờ, tiệm ăn, siêu thị bán đầy đủ thực phẩm Việt Nam không thiếu, sẵn sàng tại các khu người Việt. Trong các Mall, giữa các sắc dân đông đúc luôn luôn nghe được một giọng lạ nổi lên nhưng lại rất quen thuộc thì chắc là có người Việt trong đám đó rồi. Hồi những năm 1975, 76, cố tìm một chai nước mắm cũng khó. Cả thành phố chỉ có một tiệm tạp hóa Tầu nhỏ. Thế mà chỉ mười mấy năm sau khi có làn sóng vượt biển, những người “boat people” đã đến, và họ đã làm nên lịch sử những “Little Saigon”, tôi tin tưởng như thế. Chúng ta hãy cám ơn họ.
Nhạc sĩ Cung Tiến