Con Tầu Trường Xuân

10/03/200100:00:00(Xem: 208676)
Bài tham dự số: 02-185-VB0311

Đã nhiều lần Sơn giải thích cho Mỹ hiểu là qua nước Hoa Kỳ, có việc nào kiếm tiền là cứ làm. Ở nước Mỹ bằng cấp chỉ là một phương tiện để sinh nhai, chứ không phải dùng để đánh bóng, để nở mặt nở mày với thiên hạ như phong tục tập quán nhà mình, nhưng Mỹ vẫn cứ ngần ngaị nói với Sơn:
"Dù sao em cũng là cô giaó bên Việt Nam, dù cô giaó daỵ tiểu học nhưng đi làm waitress em thấy nó kỳ ky.ø"
Sơn thông cảm cho vợ, vì khi chân ướt chân raó qua đây, anh cũng đi làm cỏ. Lúc đầu anh aí ngại lắm, dù sao ở Saì gòn anh cũng là Sĩ quan, bao nhiêu năm lính, lặn lội khắp chiến trường nam bắc, từ Pleime, Bình giả, Cam lộ, Đức Cơ anh đã góp phần cho cuôc chiến, máu và vài bộ phận thân thể Sơn cũng đã bỏ lại trên chiến trường, đã ba lần bị thương nặng, được đưa vaò bệnh viện Măng cá, rồi Cộïng hoà.
Sau khi trở thành phế nhân, Sơn được phục vụ tại Saì Gòn trong những ngày cuối cùng năm tháng tư đen năm 75. Qua đến nước Mỹ, với Sơn, cũng là một sự ngẩu nhiên. Khi Cọng quân tiến chiếm Saì Gòn, mợ Tâm đã noí thẳng vơí Sơn:
"Lâu nay cậu mợ đối đãi với con ra sao, con cũng biết. Con đừng giận cậu mợ, và hiểu lầm cậu mợ không chịu chứa chấp con. Tuy nhiên trong hàng xóm mợ nghe có du kích Cộïng Sản rình rập, nhìn qua nhà mình chỉ chỏ, hay con hãy về quê trốn đi, khi nào quân đội quốc gia mình thắng lại được như kỳ Mậu Thân thì con hảy trở về"
Không muốn trở thành gánh nặng nguy hiểm cho ngưoì thân, sáng sớm hôm sau 30/4 mơí 4 giờ, Sơn laí xe gắn máy lang thang khắp Saì gòn, trên mình vẫn còn bộ quân phục và chiếc aó lạnh không quân do Hoaì, bạn học lớp đệ nhất tặng Sơn. Chỉ vài tháng sau khi gặp nhau và trao cho Sơn chiếc aó lạnh, Hoaì đã tử nạn trong một phi vụ trực thăng tai Đà nẵng.
Sơn dừng lại tại bến Bạch Đằng, vì chổ này ồn aò naó nhiệt bất thường. Sơn thấy lố nhố rất nhiều ngươì tại cưả ra vào căn cứ Haỉ Quân. Sơn tò mò len tới đó, chợt một thanh niên mặc quân phục Haỉ quân chận xe Sơn lại:
"Đaị uý, em chờ Đaị uý lâu rồi. Sao giờ naỳ ông mơí tơí. Đại tá biêủ em ra đón Đại uý, phi cơ chờ Đaị uý."
Sơn chẳng hiểu anh này muốn noí gì, chưa kịp phản ứng thì chàng thanh niên nhaỷ vọt lên ngôí sau xe, nắm tay Sơn baỏ rồ gas cho xe chạy. Viên Quân cảnh bât thình lình không ngờ tơí, đã đề cho hai ngưoì lọt vaò khuôn viên Haỉ Quân.
Sơn tính dừng laị chàng thanh niên tiếp tục:
"Anh chay mau lên, họ tửơng anh là phi công cuả Haỉ quân, chạy mau lên, đừng để họ băt laị."
Sau naỳ Sơn mơí biết là trong căn cứ Haỉ Quân lúc đó có mấy chiếc trưc thăng. Đaị đa số Haỉ Quân đã di tản ra hạm đội ngaỳ trước, vị Sĩ quan tình nguyện ở lại nay lại đổi ý muốn đi, nên liên lạc vơí viên phi công đề đưa gia đinh ra hạm đội Mỹ. Té ra caí aó lạnh Hoài tặng, có thêu hình cánh bay đã giúp Sơn vaò tân căn cứ Bạch đằng. Chắc Hoaì chỉ lối đưa đường cho bạn mình, nên đưa đẩy Sơn vào tận căn cứ, dù đang được canh gác cẩn mật, và dù Sơn không chủ tâm muốn vào .
Chàng thanh niên tên Tâm, Trung sĩ Haỉ quân, vì đi phép nên không kịp đi di tản cùng đơn vị. Trở về lại không được vaò căn cứ vì đã có lệnh trên, “ngoại bất nhập, nộâi bất xuất". Nhưng Tâm cũng nghe lén đựơc quân cảnh đang chờ vị phi công do lệnh cuả cấp trên. Do đó vơí bản tính láu cá Tâm đã lợi dụng Sơn để vào cổng căn cứ. Lúc đầu Tâm cũng lầm tưởng vì Sơn là phi công thật vì chiếc áo lạnh không quân, nhưng sau đó thấy bộ mặt ngơ ngác cuả Sơn nên Tâm biết đã lầm, nhưng đã lỡ rồi thì phải cho lở luôn.
Sơn và Tâm vào tận bến cuả căn cứ. Một vị thượng sĩ già đón Sơn, ông ta noí :
"Máy bay đã sẳn sàng, chỉ còn chờ vài người, còn gia đình Đai uý đâu" Nghe noí Đaị Uý phu nhân cũng đi theo mà""
Đến cớ sự này Sơn bắt đầu xanh mặt, Sơn muốn nói thật anh chẳng phải phi công, phi đội gì cả, lại chả biết lái maý bay bao giờ, mà cũng tại vì anh cũng đâu muốn đi di tản, chàng chỉ đi lang thang giết thì giờ trước khi đến nhà Hoa từ biệt ngưoì yêu, rồi mua vé xe về quê. Nhưng Tâm nhanh nhẫu keó Sơn ra chổ riêng và noí cho Sơn biết "Họ sẽ nhốt cả hai nếu anh noí là không phải phi công, em van anh mà. Để coi, em sẽ tuỳ cơ ứng biến vơí anh."
"Ầm , ầm, bùng, bùng" hai quả đạn phaó kích cuả Cộng Sản pháo vaò căn cứ vaò sáng 30/4. Vị Thượng sĩ có nhiệm vụ tiếp đón đẩy Sơn và Tâm cùng vơí ông vaó chiếc PCF, một chiếc taù chiến đấu nhỏ cuả Haỉ Quân có súng, taù naỳ chỉ chạy trong sông. Đê tránh phaó kích, vị thượng sĩ cho taù ra sông. Taù chạy tơí chạy lui trên sông Saì gòn, chợt bản tin đầu hàng đã được đọc ra và trên khách sạn Majestic đã thấy lấp ló mờ mịt lá cờ 2 maù cuả giải phóng.
Vị Thượng Sĩ cho tàu vô đại trong bờ và nhaỷ lên, trước khi đi ông còn cho Sơn biết chiếc PCF này không thể naò ra đại dương đựơc. “Đại uý phaỉ kiếm taù lớn hơn mà đi". Thế là ông biến mât. Cứ mổi lần taù ngừng là đồng baò hai bên bờ laị nhaỷ lên, có người nhảy xuống cho nên giờ naỳ cũng đã có chừng vaì chục người trên taù.
Vị thượng sĩ đi rồi, Tâm đã trở thành thủy thủ bất đăc dỉ.
Và ông thâỳ Sơn trở thành vị chỉ huy tàu. Taù lắc lư tròng trành vì Tâm rất ít khi được lái taù.
Thơì gian căng thẳng cũng đã lắng diụ bớt, Sơn nhìn số người trong taù ai cũng hoang mang hoảng hốt, nhất là có vaì cô gái, vaì bà hơn bốn mưoi vaí trơì vaí đất luôn miệng. Sơn chợt nhớ đén Hoa, cô học trò Trưng Vương mà Sơn đã quen biết bao năm trời. Anh muốn trở về ôm người yêu trong vòng tay, nôỉ nhớ nhung Hoa xâm chiếm Sơn kỳ lạ, anh noí như quát vơí Tâm :
“Anh cho taù vô bờ, tôi muốn xuống"
Tâm khóat tay ra hiệu là anh không biết laí taù, thì làm sao anh cho tàu vô bờ theo ý muốn được. Nghe thấy Sơn định lên bờ, một cô gaí trẻ đã cầm tay anh nhắc nhở:
“Đại uý nguy hiểm lắm đó, Việt Côïng nó giết anh liền đó". Có người nhắc đến Cộïng Sản là Sơn tỉnh giấc mộng trở về thực tại ngay, tay Sơn đã từng quơ đại liên giết từng đám Cộïng Sản tại U Minh, ném lựu đạn tiêu diêt hậu cần của chúng tai Ban mê Thuộc, Sơn chính là kẻ thù không chiến tuyến với Cộng Quân, anh có hèn nhát đầu hàng cũng chưa chác cứu được mạng sống mình, mà taị sao phaỉ đầu hàng bọn chúng" Maú anh hùng đã nồi dậy.
Chợt tiếng cô gaí vẫn văng vẳng bên tai:
“ Anh đừng lên bờ, đừng bỏ tụi em"
Thằng Tâm cũng khóc:
“Đừng bỏ em nghe Đại uý, đi theo tụi em, có gì mình nương tựa vào nhau, dì em đang ở Mỹ chờ em qua".
Sơn vừa mơí biết Tâm chưa qúa hai tiếng đồng hồ, còn cô gaí kia chàng cũng chưa nhìn rỏ dung nhan, nhưng giọng noí rất thành thật, van lơn. Chợt cô gaí mở dây kéo chiếc aó lạnh không quân của Sơn: “Anh cơỉ bộ đồ lính đi, tuị Cọng Sản nhìn thấy anh, nó sẽ bắn sẻ đó.”
Sơn từ từ cơỉ bỏ bộ đồ lính, thằng Tâm chuẩn bị sẳn một bộ đồ civil, vứt đại qua Sơn. Anh thay vội vàng chiếc quần, đang chuẩn bị tròng thêm chiếc aó, thì cô gáí đã nhanh tay caì khuy cho Sơn, và noí rất nhanh "Coi chừng lạnh, em tên Mỹ, còn anh tên Sơn, em đã nhìn thấy bảng tên anh".
Nhiều chiếc ghe nhỏ đã tấp vaò chiếc PCF, mổi lần như vậy là vaì chục ngưoì lên thêm, may mắn thay có vaì thuỷ thủ rành nghề lên taù và thay tay laí cho Tâm. Chiếc tàu có ngưoì laí giỏi chạy như bay trên sông Saì Gòn. Chợt Sơn nhớ đến câu nóí vị thưọng sĩ “taù naỳ không ra đại dương được".
Tự nhiên bổn phận cuả một viên sĩ quan cao cấp nhất trên tàu, Sơn nhắc nhở đồng bào đang nhốn nhaó:
“Chiếc naỳ không thể ra hải phận quốc tế được, ai theo tôi thì lên chiếùc tàu lớn kia, chiếc maù xám đó, còn ai muốn ở lại chiếc naỳ thì tùy ý các vị."
Noí xong Sơn ra hiệu cho Tâm và các anh laí taù cập sát chiếc tàu lớn đang đậu taị cảng, trên taù đã lố nhố vaì ngàn người. Các sợi dây thừng, thòng lọng là phưong tiện duy nhất để leo lên. Thật khó xử cho Sơn, vì vài thanh niên nghi ngờ Sơn, bảo Sơn phaỉ lên trước tiên, họ không tin tưởng chiếc tàu lớn sẽ di tản, có lẻ chiếc tàu nhỏ này qúa đông, nên Sơn lừa họ lên taù khác chăng.
Sơn ra hiệu cho Tâm lên sau cùng khi đẩy các bà các cô lên tàu lớn trước. Tâm có lẻ hơi bực bội nghĩ thầm, đến nứơc này mà còn tính galant, nhưng nghĩ sao Tâm gật đầu. Sau cả tiếng vất vả, đại đa số lên được chiếc Trường Xuân đang chết máy. Quả thật giờ này Sơn mơí hoảng hồn, mình đề nghị đồng bào lên chiếc tàu chết máy, có sao không" Chợt nghe giọng nói cuả một anh bạn trẻ nói vơí vợ:
“Ông thuyền trưởng đã kiếm được thợ maý và tài công, gìờ đang sưả chưả, đừng lo quá nhe em.
Tâm và Mỹ ngôì co ro một bên Sơn. Trơì đã sáng tỏ, nhìn lên đấùt liền, Sơn thấy lố nhố dồng baò trên bờ, nhìn thấy chiếc cờ hai màu cuả giải phóng mà Sơn đau nhoí ở lồng ngực, anh nghĩ biết bao nhiêu ngưoì lính bỏ mạng trên chiến trường, bao thanh niên ngả gục cho hai chữ Tự do, thế mà bị qưốc tế lưà bịp, cấp lảnh đạo cứ xua binh lính rút lui, giặc chưa đến mà đã chạy. Nhục nhả thay khi chiếc cờ sọt rác giải phóng chểm chệ rủ rựợi trên cao ốc cuả khách sạn Saì gòn.”


“Em có chút mì goí, ăn đở đi Đại uy.ù" thằng Tâm khêù khều, tay đang nắm vài cọng mì khô. Sơn không hiểu sao lại bực mình: “Anh gọi tôi là Sơn, bây giờ chả có ai tướng ai uý nưã" Thằng Tâm rụt tay lại noí nhỏ “Dạ em biết."
Thế rồi chiếc taù Trường Xuân nổ maý, đồng bào reo hò, cũng khoảng mười phút sau taù mơí rục rịch di động, tàu rơì xa Sài Gòn. Trên boong taù cả ngàn ngưoì ngôi đứng la liệt, ngưoì nọ ngồi sát người kia như cá đóng hộp. Những bộ mặt ngơ ngác khó hiểu, không biết buồn hay vui, vui vì ít ra có cơ hội thoát ách cọng sản, đựoc ra nưóc ngoài, buồn vì xa cách ngưoì thân, bỏ lại hết gia sản sau mấy chục năm dành dụm, lo vì không biết tương lai mình sẽ ra sao, taù có bị Cọng Sản bắt lại"
Đã xế chiều mà chiếc taù cà rịch cà tang vẫn còn trên sông, chưa ra đến Vủng Tàu, rồi đột nhiên trên tàu có ngưoì la lên “taù gảy bánh lái rồi". Chiếc tàu không bánh lái không quẹo đưọc vaò khúc quanh, đâm sầm vào đất liền, một phần tư taù đã bị mắc cạn.
Lơị dụng cơ hội này vài chục đồng baò nhảy xuống đất liền, chạy trốn trước khi Cọng sản lùng bắt. Chiếc PCF đã chạy cặp theo từ cảng Sai gòn, ghé lại hỏi thăm, nó cố gắng kéo taù lớn ra bờ nhưng vô hiệu, chiếc này nhỏ quá không đủ sức.
Trơì tối dần, mọi ngừời hiện ra vẻ thất vọng qua những lòi than vản. Xa xa có ánh đèn, một chiếc tàu buôn trên đường về lại Sai Gòn đã bị chận lại bơỉ chiếc PCF. Dù nhỏ con nhưng chiếc này có trang bị súng ống, giống như chó sói vồ bắt con hươu.
Đã có sự dàn xếp giá cả để chiếc tàu này keó chiếc Trường Xuân ra haỉ phận quốc tế. Có lẻ vì lòng nhân đạo, tàu này chỉ nhỏ bằng nưã chiếc Trường Xuân nhưng cũng đủ sức để keó chiếc này ra khoỉ vùng mắc cạn và di chuyển ra hải phận quốc tế.
Tầu Trường Xuân tự nó đã chạy chậm, nay lại được một chiếc khác kéo, lại châm rì chậm rịt thêm, đôi khi mắc cả lưới đánh cá vì di chuyển trái phải như cua bò. Trên trời vài chiéc máy bay lượn qua lươn lại. Ngọn hải đăng cuả Vũng Tàu đã hiện ra. Nếu một quả bom từ chiếc phi cơ nhả xuống thì hàng ngàn ngưòi sẽ là mối ngon cho cá. Nhưng hình như cả bọn Cọng đang hí hửng vui mừng cưởng chiếm được miền Nam như chú mọi đen cưới được công chúa, nên chả ai thèm để ý hai chiếc tàu nhỏ đang đi lần về hải phận quốc tế.
Đến haỉ phận quốc tế rồi, sau khi trao hết nước uống cho ngưoì trên Trường Xuân, chiếc taù nhỏ đã từ giả về lại Saì gòn. Chiếc Trường Xuân không bánh lái, ì ạch ra đại dương.
“Tin mơí nhất, tin mới nhất, chúng tôi đã liên lạc vơí hạm đôị Mỹ và họ trên đường tìm tọa độ đi đón chúng ta." Tin này truyền ra từ loa phóng thanh làm cả ngàn ngươì phấn chấn, thức tỉnh, họ vui mừng qúa độ, dùng nưóc để dôị lên đầu cho mát, tha hồ, có người dùng để đánh răng. Riêng thằng Tâm cứ ôm chặt 5 gallon nước, đang múc một ly nhỏ cho Mỹ uống.
Nhưng rối một ngày, rối hai, ba ngaỳ chả thấy hạm đôi naò đến rước, maý tàu cũng đã ngưng chaỵ. Có người trộ thêm “cứ đà naỳ thì taù trôi dạt vào Nha Trang". Vài người qúa thất vọng hay vì các lý do riêng tư đã tự sát bằng súng hay nhảy xuống biền trong đêm khuya, một tiếng tỏm khô khan nhỏ bé so vơí tiếng sóng biển là một mạng ngưoì ra đi.
“Thuyền đã ngập nước, thanh niên haỷ giúp chúng tôi tát nước" loa lại vang dội trong đêm trường khi cả ngàn ngươì đang kiệt sức vì thiếu ăn, thiếu uống, say sóng. Sơn vùng dâỵ baỏ Tâm “đi theo tôi". Tâm chỉ caí bình nước đang đưọc ôm chặt, Sơn chỉ qua Mỹ nàng đang ngồi dã dượi như không còn chút sinh lực. Sơn lấy caí aó lạnh Hoài tặng đắp lên bình nưóc và bước qua đầu từng người để đi về phiá hầm taù tát nước, Tâm baỉ hoải theo sau.
Sở dỉ Sơn Tâm còn sức lực đi lui tơí vì có vaì miếng khô bò trong tuí, thêm mì khô cuả Tâm và nhất là nước uống, dù chia sẻ với các bà con chung quanh nhưng cũng còn hơn một nửa. Vị thuyền trưởng khả kính, vỗ vai từng anh em đi tát nước, sau khi xong xuôi ban chỉ huy còn tặng Sơn và Tâm hai miếng cơm cháy nhỏ bằng ba đốt ngón tay. Có lẻ đó là hai miếng cơm cháy quí giá nhất đơì cuả Sơn và Tâm.
Thuyền trưởng yêu câù anh em đi theo các vị bác sĩ bơm nưóc cho từng người, nhất là con nít. Tất cả đều nằm chồng lên nhau chứ không ai còn sức để ngôì. Tất cả mọi người, một chút sinh khí cũng không còn.
Sợ đồng baò qúa tuyệt vọng, thuyền trưởng cho biết vẫn còn nước trong hầm tàu, đủ để giử sinh mạng cho tất cả ít ra cho đến khi có tàu khác đến cứu.
Sau một vòng xịt nước vaò miệng cho khóm đồng baò phiá phaỉ cánh taù, chừng trăm ngươì, theo lơì dặn cuả bác sĩ , Sơn cứ mở miệng nạn nhân ra và xịt nước vào cuống họng, nhất là các trẻ em. Laỉ raỉ chỉ cho nước chừng vaì chục người mà vị bác sĩ và Sơn đã kiệt sức vì khom lên khom xuống, vài thanh niên khác lại tiếp tục công việc.
Sơn trở laị chổ củ, Mỹ ngôì bất đông, bình nước đã biến mất. Sơn còn một ít nước dư trong chai xịt, mở miệng Mỹ, xịt cho nàng mấy hớp. Nàng tỉnh lại, Sơn cầm miếng cơm cháy sót lại bỏ vaò thêm và xịt thêm ít nước. Thần diệu thay chỉ nửa tiếng sau, thần sắc Mỹ đã thấy khá hơn. Chiếc aó lạnh không quân dùng để che chở bình nước uống, nay được Mỹ ôm chặc vaò lòng để che lanh, mở măt nhìn thấy Sơn nàng vôi đưa lại chiếc aó.
“ Cô cứ mặc đi, tôi còn cái khác".
Sơn lấy trong xách tay chiếc aó lính có ba bông mai vàng rực, chàng mặc vôị vaò như thể trong tương lai chàng sẽ không bao giờ có dịp để mặc nó nưã.
Thêm một ngaỳ đêm trôi qua không thấy taù bè naò qua lại tiếp cứu, mặc dù tấm vaỉ trắng đã được treo lên, cạnh lá cờ vàng.
“Có taù lớn đến, có tàu đến “ cả mấy chục ngưoì reo hò.
Liên lạc giưã Trường Xuân và chiếc taù Đan mạch lớn đó đã thông. Taù Trường Xuân cử đại diện qua taù lớn thượng lưọng và cho biết tình hình đồøng bào kiệt sức trên taù nhất là trẻ em và phụ nữ. Thuyền trưởng Đan Mạch phaỉ xin lệnh được cấp cứu từ chính phù họ. Có lẻ cả vaì ngàn xác không hồ`n nằ`m bất động trên khoang tàu, đã làm thế giới xúc đông, họ đồng ý tiếp cứu, không những cho lương thực mà còn cho đồng baò lên tàu vì con taù Trường Xuân hư maý móc, không bánh laí thì không thể di chuyền đi đâu được.
Viêc di chuyền đồng baò từ Trường Xuân sang Đan Mạch rất khó, vì taù Đan mạch rất cao, như ta đúng dươí đất nhìn lên hai tầng lầu. Mà đa số đòng baò chả còn sức lực để leo lên taù lớn bằng một cuộn dây lươí do thủy thủ Đan mạch treo lên. Sơn diù Mỹ lên taù không khó khăn vì nàng nhỏ con. Sơn lại xuống giúp các đồng báo khác. Có một cô gái nhỏ con nhưng không còn sức để leo lên, dù chỉ là một nấc Sơn khinh thường dùng một tay traí để đẩy nàng lên, rồi lại hai tay nhưng vẫn không nhúc nhích, có khi làm chàng té nhaò ra sau. Tâm hóm hỉnh nói “người không lớn, nhưng chiếc aó giáp đặc biệt cuả cô nàng nặng lắm". Sơn mệt qúa không còn cươì nôỉ vơí câu khôi haì cuả Tâm.
Thằng Tâm đưa cho Sơn lon xúp do thủy thủ Đan Mạch cho, xúp đã nguôị nhưng khi uống vào Sơn thâý khoan khoaí và khoẻ hơn.
Vaì tiềng đồng hồ trôi qua, tất cả đồng bào đã sang tàu Đan mạch, vaì chục thanh niên còn lảng vảng đi nhặt đồ rơi, từ vài đô, vaì chỉ vàng, aó quần. Chợt Tâm kêu Sơn xuống, chỉ một người đang nằm, một ông cụ. Vaì thanh niên ngăn Sơn:
“Xác chết đó anh, thân nhân đã quyết đinh để ông cụ theo chiếc taù".
Thuỷ thủ Đan mạch dùng loa kêu lớp thanh niên lên taù để họ cuốn lươí lại. Khi moị ngưoì cùng leo lên một lần thì rất dễ lên xuống vì thăng bằng, khi còn lại vài ngưoì thì chòng chành khó leo. Mỹ đứng trên taù lớn lo lắng cho Sơn và Tâm có lên kịp không.
Tâm đi lâý thức ăn, cứ mổi lần là một chén xúp va một hôp sưà bằng giấy. Sau khi ăn thêm một chén xúp nưã và uống một bịch sưả, Sơn bị đau bụng dữ dội, hình như bao tử bị xót.
Chàng ra nơi chổ vệ sinh bên hông tàu, cầu vệ sinh được làm như các nhà Việt Nam trên sông, ngôì nhìn thấy cả sao trơì và sóng vổ. Tâm đang ở trên hỏi vọng xuống “anh có đi đưọc không", em xuống mâý lần, đau bụng muốn chết mà không đi được".
Tâm nói đúng, sau bốn năm ngày trơì không đụng đến cầu tiêu, nay đại tiện hay tiểu tiện cũng không thực hiện được. Mất nước, mất gia đình nay mất đi nhiệm vụ thông thường cuả cơ thể.
...

Hồng Kông ánh đèn rực sáng chói, bán đaỏ đứng sừng sửng như một thiên đường hạ gìới, tự do là đây sao" hạnh phúc là đây sao" tương lai đang mở cưả đón chào cả ngàn con tim thổn thức, buồn vui lẩn lộn, vừa háo hức vưà ngại ngùng. Một chân trơì mơí đã hiên ra, rồi mình sẽ ra sao như con chim non tung cánh khắp mọi hướng trong vòm trơì tự do này. Từ đây, Mỹ trở thành người bạn đời của chàng.
Cám ơn Thế giới Tự do, cho chúng tôi cơ hôị làm ngưoì mà chúng tôi đã mất trên chính quê hương mình.

TRẦN HOÀN
4/30/200

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 808,326,865
Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả.
Tác giả lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ và đã nhận giải VVNM 2019. Bà tên thật là Ngô Phương Liên, học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79
Tác giả lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ và đã nhận giải VVNM 2019. Bà tên thật là Ngô Phương Liên, học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79
Tác giả dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng Sáu 2017, đã nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2018 năm thứ XIX. Sau nhiều năm làm công việc khai thuế tại vùng Hollywood, cô và gia đình hiện đã rời Los Angeles để trở thành cư dân quận Cam.
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ từ 2006 với bút hiệu Huyền Thoại. Một số bài viết khác của cô được ký tên Thịnh Hương. Nay hai bút hiệu hợp nhất, thành một tác giả thân quen của sinh hoạt Việt Báo. Tác giả hiện cư trú và làm việc tại miền Bắc California. Bài mới của cô dành cho ngày Lễ Halloween
Tác giả đã nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2014. Cô sinh năm 1962, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật năm 1988 khoa Đồ Họa tại Việt Nam, từng làm công việc thiết kế sáng tạo trong ngành quảng cáo.
Tác giả sinh năm 1959 tại Đà Nẵng đến Mỹ năm 1994 diện HO cùng ba và các em, định cư tại tiểu bang Georgia. Hiện là nhân viên công ty in Scientific Games tại Atlanta, tiểu bang Georgia. Bà đã góp bài từ 2015, kể chuyện về người bố Hát Ô và nhận giải Viết Về Nước Mỹ.
Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, "Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên," tác giả đã nhận giải chung kết 2014. và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ 2018. Ông tên thật là Chu Văn Huy, cựu tù, vượt biển, hiện là cư dân San Jose, đã nghỉ hưu sau 37 năm làm việc cho các hãng điện tử tại Silicon Valley - Thung lũng Hoa Vàng, California. Đây là bài mới nhất của Ông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.