Cái Giá Tìm Tự Do

19/04/202114:56:00(Xem: 2389)
Minh Thuy
(hình tác giả cung cấp)



Minh Thúy Thành Nội
Tác giả lần đầu tiết về nước Mỹ từ tháng 11, 2018, với bài “Tình người hoa nở”,   Cô tên thật là Nguyễn thị Minh Thuý sinh năm 1955. Qua Mỹ năm 1985, hiện là cư dân thành phố Hayward thuộc Bắc Cali. 

***
 
 

Sau 1975 đời như đứt ngang, mọi thứ đều dở dang. Tình trạng bị kèm kẹp, ép buộc lên kinh tế mới, đói rách, nghèo cực kiệt quệ, ai cũng mơ trốn thoát Việt Cộng bằng đường biển, giống năm 1954 miền Bắc di cư vào Nam. Nói như câu “nếu cột điện biết di động thì cũng tìm đường mà đi ...”

        Tôi quen Lộc vốn thầy giáo dạy môn Toán trường trung học Đà Nẵng, sau xin thuyên chuyển về trường Hàm Nghi (Quốc Tử Giám ngày xưa), trường bị xoá bỏ, nên được diễu cợt đắng cay cái từ là kẻ “vô lương, mất dạy” ( không có lương, không được đi dạy). Lộc thường bị chỉ điểm có tên trong danh sách đi rà mìn, đi công tác thuỷ lợi nên trốn vào Sài Gòn.

       Tháng sáu năm 1979 tôi nhận thư Lộc gởi từ Tây Đức, quá sức bất ngờ... Lộc un đúc cho tôi bừng lên niềm hy vọng mãnh liệt. Gia đình Lộc sống không được yên thân, sau khi nửa gia đình đã vượt biên, ngày nào cũng bị công an đến hỏi số người vắng, nên Mẹ Lộc bán nhà lẹ làng âm thầm với giá rẻ mạt để vào Nam, vì nếu không bán sớm cũng sẽ bị tịch thu nhà cửa khi họ điều tra ra. Không biết Lộc có bàn tính gì với Mẹ, trước hôm bà chuẩn bị vào Sài Gòn, nhắn cô gái Út gọi tôi lên dặn dò “nếu con muốn đi theo Lộc thì nên vào Sài Gòn dễ có cơ hội, Lộc sẽ lo cho con…”

Tôi từ giã thành phố Huế, vào Nam tìm đường vượt biển dưới vùng Rạch Giá , Rạch Sỏi. Ban đầu nhóm gồm có tôi, Thiện (em Xuân bạn hàng xóm), Dũng( em họ Lộc), hai chú cháu Phan, Văn, hai O Loan, Hà con Ôn Mạnh (móc nối vượt biên).

Sau nhiều chuyến đi bị bể chạy trốn về, mấy chị em cũng bị vào tù. Hai O được thả trước, đến phiên tôi. Thiện và Dũng bị đưa về kinh làng thứ 3 làm ruộng. Phan và Văn xuống kinh làng 11 (rừng U Minh) đốn củi. 

Ngoài Huế công an đến điều tra cắt hộ khẩu, trong Nam không giấy tờ phòng thân sau khi ở tù ra, tôi thành dân lậu trốn chui trốn nhủi, nhưng vẫn quyết chí theo đuổi ước mơ. 

Tôi xin kể chuyện đi cuối cùng của mình do Phan giới thiệu.

         Đầu Xuân 1985 khi mọi người đang chuẩn bị ăn Tết. Tôi xin chiếc quần đen cũ, cái áo có vá của cô em họ, đội chiếc nón lá rách, một chiếc túi vải có dây đeo chứa cuốn băng vệ sinh, chai thuốc đỏ, bộ quần áo cũ khác và một áo mưa được nhét dưới giỏ lát, trên giỏ để ổ bánh mì. Ra ngã tư leo xe lam đậu sẵn, xe còn chờ khách thêm vì chưa đầy chỗ. Loa phóng thanh cài trên các cột đèn vang vang

“Tại Châu Đốc khám phá ngôi Chùa ...có súng đạn và lương thực giấu dưới ghè tương, tại nơi kia bọn phản động định chiếm đài phát thanh, tại nơi nọ bọn Ngụy và tay sai rải truyền đơn khắp cùng, tại Vũng Tàu bắt được tàu mang biển số đánh cá Phan Thiết ...v..v...

            Bình thường các ông bà nói chuyện nhao nhao, hôm nay không nghe ai nói gì, xe đầy chỗ mà ông tài xế cũng chẳng hay, nét mặt tư lự đăm chiêu, mỗi người khách đều chăm chú lắng nghe với vẻ trầm ngâm buồn bã như niềm hy vọng nuôi dưỡng của người dân miền Nam vừa bị dập tắt. Ngồi trên xe với bao nhiêu nỗi ngổn ngang trong lòng, bên ngoài dòng người mua bán đông đúc, hoa Cúc hoa Mai sáng rực, bánh mứt chưng đầy hai bên chợ, tôi có linh cảm như được nhìn lần cuối quê hương yêu dấu. Bước xuống xe lam, đi bộ một đoạn đường mới đến nhà ông chủ tàu tên Thắng, ánh mắt tôi lưu luyến những hình ảnh thân yêu nhất, quen thuộc nhất mỗi độ Tết về.

Ông Thắng cho biết Phan có công tác đã đi trước hai ngày và giao cho tôi tấm thẻ đỏ. Tôi được đi chung nhóm bốn người, có cô Taxi (tiếng lóng “đưa rước”) dưới miền Tây lên họp. Ngày sau chúng tôi làm mặt lạ đi riêng rẽ dõi bám Cô Taxi về chợ Mỹ Tho. Đúng 5 giờ chiều lên Ghe chạy rất xa tới lúc trời gần tối tấp vào một ghe khác đang đậu nơi vắng vẻ, anh chàng ngồi trên đầu ghe đưa tay ra dấu hiệu mọi người sang qua. Chui xuống ghe có số người ngồi sẵn, vài người vác con nhỏ khóc lóc, một bà la mấy người Mẹ

- Dỗ chúng nó đi, muốn chết hết cả đám hay sao

Các cháu vẫn vùng vằng khóc ré, người đàn bà đó hét lên “đưa qua đây lẹ”, rồi bà đổ trong miệng trẻ thuốc bột trắng, tôi đoán là thuốc ngủ, quả thật sau đó các cháu ngủ mê man không động đậy. 

Lần lượt có nhiều toán khác tấp vào, khi có tiếng chân đi trên đường thì thanh niên ngồi ngoài canh gác đập mạnh vào ghe

- Im lặng hết, đang có người đi tới

Tối đó hình như có đoàn cải lương về làng trình diễn, nên nghe bước chân người đi rất đông, họ nói chuyện gánh hát nào đó, họ ca cải lương, ngang qua ghe có tiếng hỏi:

- Ghe chở gì mà đậu ở đây vậy anh?

- Ghe chở muối anh ơi, ở làng bên qua đây vớt muối được hai ngày đem ra chợ họ trả rẻ quá chưa muốn bán, định dừng đây nghỉ qua đêm có lẽ mai trở lại bán

Tiếng chân gần rồi xa, xa rồi gần..., chúng tôi ngồi nín thở bên nhau ngủ gật ngủ gù, nửa đêm người thanh niên mới cho từng người ra tiểu tiện. Tôi nhìn những bà Mẹ ôm con bụng nghĩ dại... vì thấy các cháu ngủ li bì chẳng thức dậy, đến nước liều rồi các bà Mẹ cũng như cái bóng không còn hồn nữa.

       Một ngày một đêm nhiều ghe tấp tới từng đợt. Đúng 5 giờ chiều ngày sau, ghe ông chủ tàu đến, nhảy lên hỏi anh thanh niên

- Đủ cánh chưa

- Dạ còn thiếu một ghe nữa phe ông B …

Ông Thắng khua tay

- Bỏ ...không còn kịp giờ

Tiếng máy ghe nổ lớn, tiếng người khóc lóc van xin

- Đợi chồng con tôi tới với, trời ơi ...bị bỏ lại rồi

Mặc tiếng gào thét, tiếng máy vẫn nổ ồn ào trong đêm tối gió lạnh ngắt… Lòng lo lắng kiểu đi hôi giành giựt dễ bỏ lại mình như nhiều người thường kể, tôi bắt đầu mò lấy chiếc túi vải có dây quàng chéo vào người, bỏ lại giỏ lát các thứ mua linh tinh nơi chợ và chiếc nón rách. Tôi mon men bước lần ra phía cửa. Bỗng nhiên tôi thấy ghe kề một tường thành cao chót vót, thì ra là tàu lớn, có những người mặc quần áo bộ đội rọi đèn pin xuống hét: “Cánh ai ? - cánh Thắng,  cánh B…” Tôi chồm đưa tay lên có bàn tay chụp lấy hỏi to và tôi la lên “cánh Thắng”, được gã đàn ông kéo mạnh người tôi văng qua thành rớt xuống, tôi thấy phía đàn ông không được kéo phải tự động bò leo lên, Nhìn quanh thấy Nhung, vợ chồng Cường đi chung nhóm cũng có mặt, lòng thấy phấn khởi, sau đó chúng tôi bị lùa xuống hầm sâu, chỉ trừ ai có con nhỏ không bị đẩy xô.

       Trong chớp nhoáng hầm đóng chặt kín mít, người chật cứng chẳng thấy ai là ai, tiếng máy nổ ầm trời, tôi bị lớp người đè chần lên thân sát vào máy móc, mùi xăng dầu bốc ra nghẹt thở, tiếng la hét, nhào qua lăn lại, nước vào ngâm nửa người lạnh ngắt, đầu óc lung linh, muốn chống đỡ lớp người chúi qua chúi lại nhưng toàn thân mềm nhũn yếu ớt không đưa tay lên nỗi, tôi bắt đầu ói vào mặt mũi ai đó, tất cả cùng nhau ói...Tôi bỗng đau bụng dữ dội, đau kiểu mỗi lần có kinh nguyệt, buốt nhói tê lạnh cả người, mùi hôi tanh của máu xông lên càng làm tôi nôn ọe, nhưng chỉ toàn trào ra nước chua lè, có tiếng Nhung thì thào đâu đó

- Chị Minh cho em xin băng vệ sinh

          Tôi run tay cố mò mẫn nhưng túi xách đã dạt mất đâu, và hình như tôi cũng đang có kinh, điều không thể ngờ được tôi vừa hết kinh tuần trước, tôi cố nói được chữ “mất rồi”, ngực tức vì hơi khí của máy nổ, chung quanh toàn nước nhờn nhớt, họ ói lên đầu tôi, tôi ọe vào người họ, tôi thở khó khăn, nghe bên tai những tiếng hét:

- Mở nắp hầm ra, sắp chết rồi, mở ra, mở ra...

       Tàu vẫn chạy hình như bên ngoài chỉ có tiếng vũ bão quay cuồng, tôi mơ màng nhớ đến Ba, nhớ Mẹ ...hai khuôn mặt hiện ra trước mặt, tôi như đang thì thào “giờ này Ba Mẹ đang làm gì, con sắp chết rồi Ba Mẹ có linh cảm gì không, con sắp chết rồi...ba mẹ ơi...”. Tôi lụi sức chập chờn nửa tỉnh nửa mơ giữa tiếng nôn ọe liên tục, giữa những cơn nhào lộn khi bị tàu lắc nghiêng ngả, nhồi tôi như mớ bông gòn..., tôi mê thiếp đi với tấm thân mềm nhũn...

      Thức giấc giữa phút im ắng, không còn nghe động cơ ầm ỉ, ánh sáng lọt vào khi nắp hầm được giở lên, tiếng chưởi rủa không ngớt, tôi thật sự không tin mình còn sống, còn thấy ánh nắng chan hoà. Tôi nghe có tiếng chồm xuống hầm

- Cho tôi hỏi có chị nào tên Minh ở dưới hầm không? (nào ai biết tôi?)

Tôi nhận ra giọng Phan nhưng không lên tiếng được. Mọi người nhảy hết lên bong tàu, tôi cũng lết lên theo thì thấy Phan cùng nhiều người mặc bộ xanh đậm như đội kỹ thuật, bà cho trẻ nhỏ uống thuốc mê lúc ngồi trong ghe lên tiếng chỉ huy mọi điều, thì ra là bà chủ có phần hùn chung trong chuyến đi này, gia đình bà ngồi tầng cao trên cabin. Tôi lựa gần cột sắt ngồi dựa vào hít thở không khí thoáng đạt. Ông tài công cho biết tàu đã bị tắt máy (nghe đâu ông là thiếu tá hải quân VNCH đi tù về), vài người loay hoay xem máy móc, xem địa bàn, tuyên bố tàu đã ra khỏi hải phận sau hai ngày hai đêm chạy nhanh. Nước dưới hầm vào nhiều, một số đàn ông nhảy xuống dùng gàu múc nước tát ra, số người đứng xúm lại bàn tính tìm phương cách. Lúc đó mọi người mới nghĩ đến chuyện ăn uống, họ kiểm soát lương thực thấy có củ đậu sắn đã bị hư hết, chỉ còn bánh tráng sống. Một chị đứng ra lo ẩm thực lấy mỗi miếng bánh tráng xé làm bốn chia mỗi người một phần tư, một ông kiểm soát nước chỉ có một thùng, ông lấy ống đựng thuốc bề cao bằng ngón tay giữa, đổ nước đầy vào trong rồi tuyên bố

- Số nước quá ít, chỉ uống cầm cự thôi, ống này cho ba người, mỗi người mỗi hớp.

Tôi thấy ông đưa chuyền từng người, họ làm đúng theo lời ông, ông lại đổ đầy và đến phiên tôi, chẳng nói gì tôi uống ực hết cả ống, có mấy người “..ô...ô..” và tiếng ông hét lên cùng con mắt trợn dọc:

- cái Cô này không nghe tôi dặn hay sao hả?

Tôi nhìn ông như người đang ngồi thiền, không nói, không nghe, có nhìn cũng như không, vì thật sự tôi đã đuối quá, nếu không uống ống nước đó có lẽ tôi sẽ xỉu, chỉ một ống nước như thuốc hồi sinh, trợ giúp cơ thể tôi tỉnh táo vô vàn. Tình cờ có cô nào leo lên ngồi cạnh, cô nhìn tôi rồi mở gói đưa ít Sâm lát bảo ngậm vào, cô hỏi chuyện làm quen, được biết tên cô là Phi bằng tuổi tôi. Qua ngày thứ ba, thứ tư, tàu vẫn tiếp tục theo sóng lềnh bềnh khi dạt ra hải phận, tôi thấy tàu lớn tàu nhỏ rất nhiều, niềm hy vọng vươn lên nhưng chẳng được đến gần tàu nào, qua đêm tàu bạt vào hướng Cà Mau, sáng ra về hướng Bạc Liêu, Phan ở trên tầng cao nhất lò dò xuống dặn tôi

- Nếu tàu có tấp về đâu, ai thoát được thì nhớ nhắn cho người nhà biết

Tôi càng hồi hộp, lòng ngổn ngang và ước muốn như lời hằng đêm khấn vái trước tượng Quan Âm là “một, cho lọt,  hai, để chết sông chết biển”. 

Một tuần kế tiếp tàu vẫn lênh đênh… mọi người hầu như đuối sức và tuyệt vọng, tiếng con nít khóc đến khàn hơi luôn, mấy chú thanh niên thèm ăn, nói suốt ngày món này, món kia, uống ly bia, ly trà đá ....v..v...Tôi cứ mơ màng thấy ly trà đá nhà Cô Nga mỗi trưa ngồi dùng cơm, ly trà đá ám ảnh chập chờn khi thức và lúc mê đến nhức đầu vì khao khát, may bạn Phi cho tôi ngậm Sâm lát tiếp tục. Nhiều lần tàu dạt tới mấy mỏm đá thật nguy hiểm, bà con vẫn nhận mỗi ngày hai hớp nước và nửa miếng bánh tráng sống nhai cầm cự, tiếng người than, tiếng kẻ muốn quay trở về thà bị tù nhưng còn sống, mà tàu không chiều theo lòng ai, nhiều thanh niên đói quá muốn nhảy xuống biển bắt cá lên nướng ăn nhưng bị cản lại. 

Chiều ngày thứ mười, tài công đặt ống nhòm bỗng la lên “có tàu rồi” , mọi người mừng rỡ, ai cũng mở lớn mắt theo dõi, chờ đợi tàu từ từ tiến lại, nhưng khi tàu đến gần bỗng có người hét lên

- Chết rồi tàu Việt Cộng, bà con nằm sát, úp mặt xuống kẻo trúng đạn

       Tất cả mọi người trên tàu tái mặt, nằm cúi sát, tôi chỉ biết nhắm ghiền mắt chờ chết nhưng hai phút sau tôi cũng hé mắt tò mò nhìn ...tim đập mạnh, tay chân run rẫy ...trước mắt toàn màu xanh bộ đội ra đứng nhìn chăm vào tàu chúng tôi, tôi lại nhắm mắt tiếp tục  “chuyến này chết thật rồi”. Chờ đợi ...đợi chờ hoàn toàn im lặng, có tiếng người nói “họ đi rồi” tôi mở mắt ra thì thấy tàu hải quân Việt Cộng xa dần, chẳng ai hiểu ..?!!! có những tiếng bàn luận

- Chắc họ bận đi công tác ở đâu nên không thể áp tải mình về ..

         Một phen hú hồn... tàu lại tiếp tục lơ lửng, bồng bềnh nổi trôi trên nước, mắt tôi lạc thần, ngồi nhìn sóng nước như cái xác không hồn, trước mắt chỉ thấy ly trà đá to màu vàng nâu tuyệt vời... tiếng người đàn bà nói lớn thức tỉnh tôi

- Tui đang ngủ mơ màng tự dưng thấy có con cá voi lớn lắm tới bè tàu mình đi …

- Chắc có điềm tốt, thôi bây giờ chúng ta cùng cầu  nguyện theo đạo của mình …

- Để tui ngồi yên khấn Phật Bà Quan Âm, khấn Trời Đất

Họ bàn tán xong rồi cùng im lặng ...bên Công Giáo đọc kinh lớn, bên Phật giáo niệm lâm râm ...

       Buổi chiều vẫn còn nắng gắt, từ xa thấy một chấm đen rất nhỏ, đàn ông lại đặt ống nhòm với niềm hy vọng, mọi người hướng theo chăm chú, chấm đen từ từ lớn dần, đàn ông đốt giẻ cũng như đàn bà bồng con nít đưa lên cao ra dấu hiệu cầu cứu...Chiếc tàu đến nhưng giữ khoảng cách xa, hai người đàn ông quẳng thúng nhảy xuống chèo qua quan sát, họ nhận ra người Việt Nam với nhau và nhảy lên, qua vài câu hỏi họ biết là tàu vượt biên, trước tiên họ chở qua thùng nước. Thừa lúc mọi người xúm lại nói chuyện, tôi chụp lon sữa bò của ai đã dùng sạch, nhào tới kéo vòi nước đổ đầy lon uống một hơi hết cạn. Tôi không ngờ sau khi uống lon nước xong giống một phép tiên, người hoàn toàn tỉnh táo ví như kẻ sắp chết đuối được hồi sinh, và thích thú nhìn bà con xúm lại giành nhau rót uống sau đó. Thì ra đây là tàu đánh cá của người Phan Thiết, mỗi năm họ đánh cá hai chuyến, trở về phải nạp thuế cho cục hải quan. Nét mặt họ chất phát nói cho mọi người nghe

- Tàu mấy anh chị đi vượt biển không đúng tiêu chuẩn, vì là tàu mui tròn chỉ dùng để đi sông, may mắn chưa bị lật hoặc tông vào núi đá. Chúng tôi rất rành đường biển, có nhiều lối như ngả bảy là nơi tàu bè ngoại quốc buôn bán rất đông, ngã hai, ngã ba là hướng cướp biển Thái Lan thường lộng hành, chúng tôi có thể giúp kéo tàu ra ngã bảy, nếu quý vị đảm bảo lo cho chúng tôi đủ tiền đóng thuế. Cả tàu mừng rỡ… có vài người đại diện kêu gọi gom tiền và vàng biếu các anh. Đợt một, đợt hai, đợt ba… sau khi các anh đánh cá kiểm lại số tiền vàng tạm đủ cho phần nộp thuế, họ vui vẻ chuyền thức ăn, nước uống và dùng sợi dây thừng rất lớn nhảy qua tàu chúng tôi cột nối đuôi tàu họ, rồi yêu cầu người già con nít qua bớt tàu họ vì thấy bên này người quá đông chật. Đêm đó chúng tôi hơi bình tâm, vấn đề đói khát đã được thỏa mãn khi họ câu cá thu nấu cháo, nấu bí đỏ chuyền sang, mọi người đều tỉnh táo tăng lên nguồn hy vọng. Cũng nói thêm từ khi tàu tắt máy thì ban ngày tôi vẫn ngồi trên tàu tầng giữa kề cửa của gian phòng trong (hình như gia đình bà con chủ tàu), đêm nhảy xuống hầm để trọng tải chiếc thuyền được cân bằng, mọi người vẫn thay phiên nhau tát nước ra.

      Tàu đánh cá kéo tàu chúng tôi ra khỏi hải phận đúng một ngày một đêm, các anh thả neo tàu chúng tôi. Họ cũng tâm sự rằng quen nghề đánh cá, ít học nên sợ qua các nước không biết làm gì sinh sống, vì vậy chưa bao giờ có ý định vượt biên. Nét mặt họ hiền hoà chất phát, chuyền các thức ăn khô và nước uống đầy đủ thêm lần cuối trước khi chia tay. Tàu đợi suốt ngày, dong bảng SOS, đốt vải đưa cao ...tàu bè quá nhiều đủ cờ các nước qua lại, nhưng tàu nào cũng có vẻ tránh xa ...Tôi cũng từng nghe tin tức khoảng thời gian này các trại tỵ nạn chứa người đông nghẹt, gây vấn đề nan giải cho Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, nên có lệnh ngưng vớt người vượt biển.  Dù sao vẫn còn mầm hy vọng khi tàu đã đứng ngoài hải phận Việt Nam. Cả ngày nắng rực, mắt không ngừng theo dõi những con tàu ngoại quốc loanh quanh vờn qua vờn lại, lòng thoi lên thóp xuống, tinh thần phấn khởi rồi lại vụt tắt như ánh nắng chiều lịm dần theo bóng hoàng hôn.

Trời bắt đầu nhá nhem thì tàu đánh cá xuất hiện trở lại, các anh cho biết

- Tuy đã quay lưng, nhưng không yên tâm, nên tàu vẫn đậu xa theo dõi, chờ nếu có tàu nước nào vớt, tụi tôi mới yên tâm đi về, thấy trời đã tối vẫn chưa có kết quả nên tàu phải quay lại.

Tàu lại được cột dây thừng sau đuôi tàu đánh cá lần nữa, các anh cho biết lần này sẽ kéo tới giàn khoan Mã Lai luôn. Chiếc tàu lớn kéo chiếc tàu nhỏ lướt trong đêm, nước biển màu xanh đậm sâu hun hút… lần này tôi ngồi cùng vài phụ nữ trên boong tàu, để cánh đàn ông dưới hầm phụ nhau tát nước. Nửa đêm bỗng trời gió bão tơi bời, tàu chúng tôi chòng chành, mỏng manh giữa đại dương bao la, như con thuyền giấy lúc nhỏ tôi vẫn thả mỗi khi mùa nước lụt ngập sâu, tôi có cảm tưởng như chiếc tàu là món đồ chơi của biển cả lúc này. Từng cơn sóng lớn cao gấp ba đầu tôi ào đến phủ con tàu, phủ trên đầu trên mặt tôi, mỗi cơn sóng là tàu nghiêng hẳn bên trái bên phải như muốn lật úp, những lúc nghiêng về bên tôi thành tàu nằm sát mặt nước, phản xạ tự nhiên tôi nghiêng người ngược lại hướng kia, tiếng la hét hãi hùng, tiếng khóc dậy trời, kèm theo tiếng trấn an:

- Bà con bình tĩnh, bà con bình tĩnh ...tát nước ra ..tát nước ra ...tát nước ra ..

- Tàu nghiêng hướng nào thì mình nghiêng người ngược lại, bình tĩnh ...bình tĩnh …

Tiếng kinh cầu râm ran pha trộn hai tôn giáo vang trên biển cả

       Tôi hết cảm giác… người cứng đơ chấp nhận sự sống chết trong gang tấc, trong từng giây ngắn ngủi, tôi ôm chặt khung sắt nhắm mắt niệm “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát” liên tục không còn biết thêm điều gì nữa, bỗng có tiếng la to

- Dây thừng sắp đứt rồi, bà con ơi ...dây thừng sắp đứt ...

         Tôi mở mắt nhìn mọi người nhốn nháo sợ hãi, hình như tàu đã đi qua vùng bão gió, có vẻ yên hơn, qua một đêm đùa giỡn với tử thần, bà con chưa hoàn hồn, tiếp tục lo âu dây thừng bị sóng đánh mòn, nếu dây bị đứt lúc biển động sóng gió có lẽ tàu chúng tôi đã bị lật úp...Và may mắn vô cùng tàu đã đến giàn khoan dầu (Oil platform) ngoài bờ biển Malaysia đúng lúc trời gần sáng. Các anh đánh cá lại thêm một lần lấy dây thừng khác cột chặt tàu chúng tôi vào những trụ sắt dưới chân giàn khoan. Phút cuối cùng thật sự chia tay, bên các anh cũng như bên tàu chúng tôi đều đứng nhìn nhau nói vài lời, nét mặt ai cũng cố đè nén cảm xúc, nhưng không ngăn được những giọt nước mắt ân tình sâu nặng đã cứu thoát một chuyến tàu

       Trời còn mờ, chúng tôi ngẩng lên thấy công nhân rất đông đứng nhìn xuống, họ đưa máy ra chụp hình và bắt loa hỏi tàu có bao nhiêu người, anh đại diện trả lời “ Có tất cả chín mươi hai người và chuyến tàu đã lênh đênh hơn mười hai ngày”.

       Họ chuyền ống nước xuống trước, sau đó tiếp tục chuyền cơm gà gói giấy bạc, trái táo và cam vàng, loại cam đã gần mười năm tôi mới thấy lại.Đúng giờ nhân viên trở vào làm việc, không còn thấy bóng người, thỉnh thoảng có những chiếc máy bay hạ xuống tầng thượng lấy nhiên liệu rồi bay tiếp. Đến chiều có lẽ tan giờ làm việc, công nhân lại xuất hiện lan can các tầng cao nhìn xuống, họ tiếp tục chuyền thức ăn và nói qua chiếc loa là đã liên lạc tàu dầu Mã Lai đến đón.

Nửa khuya bỗng đâu có ghe tiến tới kề sát, hai tên đàn ông Mã Lai mình trần xâm đầy người, đầu trọc da mặt đen thui, chúng ra dấu sẽ kéo tàu chúng tôi đến đảo, đàn bà con gái tái mặt nhảy xuống hầm chui ẩn trong guồng máy sâu nín thở. Phe đàn ông nhảy lên nhìn hai tên Mã Lai khoát tay ra dấu không đi đâu hết, có lẽ hai tên này thấy đông đàn ông nên không dám nhảy qua tàu bên này chăng ?!!, họ lặng lẽ chèo đi. Chưa hoàn hồn thì khoảng tiếng sau lại thấy hai ghe khác đến vờn quanh, quan sát như muốn nhảy qua tàu chúng tôi, đàn ông bắt phụ nữ xuống hầm hết và đứng dàn thật đông, hai bên diễn đạt sao đó các ghe lại bỏ đi, mọi người tiếp tục dật dờ giấc ngủ và mong trời mau sáng...Màn đêm dày đặc, nhìn mực nước sâu tím rùng mình, mực nước nhấp  nhô con tàu với làn sóng mạnh, bà con tuy đã có nguồn hy vọng nhưng vẫn còn thấp thỏm dưới ánh đèn vàng của giàn khoan, đêm gió lạnh thổi phần phật …Sáng sớm, công nhân lại xuất hiện chuyền thức ăn xuống, các anh đại diện tàu viết một thư với nội dung vắn tắt như sau:“Nguyên đêm có mấy ghe vờn quanh tàu chúng tôi, khiến mọi người sợ hãi cảm thấy nguy hiểm đến tính mạng, xin bảo vệ mạng sống chúng tôi được an toàn”

Thế rồi sau giờ làm việc chiều, có số công nhân bước xuống gần tàu chúng tôi phát áo phao, bắt tất cả đều mặc, họ cột dây từ tàu bên này nối qua cột sắc bên dàn khoan và cho biết lý do.

- Chúng tôi không được phép cứu người vượt biển. Chúng tôi sẽ làm cách này ...từng người nắm chặt dây cáp, được đu dây đẩy qua lần lượt, cho đến khi còn người cuối cùng biết bơi, sẽ đâm thủng tàu cho chìm rồi bơi lên đây, chúng tôi sẽ trình lên cấp trên với lý do “vì tàu sắp chìm bắt buộc phải cứu người” năm trước có một tàu đã chìm dưới giàn khoan này.

Được lên tàu dầu chạy một đêm một ngày, mọi người ra đứng boong tàu nhìn cảnh vật chung quanh với lòng phơi phới. Tôi vẫn còn ám ảnh hãi hùng của đêm giông bão và trầm tư suy nghĩ miên man...“Một phen hú hồn... con tàu này sẽ đến bến bờ không còn đối diện bao nhiêu nguy hiểm nữa”. Nhìn nước biển mênh mông, trời đất bao la, tôi bắt đầu tỉnh táo “Ra sông ...Biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông, biết đời viễn vông, biết ta hãi hùng… Ra đi nước trời bao la, hết cuộc phong ba, đất liền Âu Á cũng không xa gì.” (Viễn Du_Phạm Duy). Đang mơ màng bỗng có tiếng nói bên tai, ban đầu tôi tưởng mọi người nói chuyện với nhau

- Cháu đi một mình thôi à ?

Tôi ngẩn người bắt gặp “ông phát nước” đang nhìn tôi hỏi

- Dạ đi một mình

- Trót lọt rồi sao nhìn cháu buồn quá vậy

- Dạ đâu có, đang ngắm biển mà

Rồi ông nói chuyện thân mật, tự giới thiệu ông đi tù cải tạo về, ông ở đâu ...v..v... Tôi muốn nhắc chuyện “uống nước” cho vui nhưng rồi cũng lười nói, chỉ ..dạ ..dạ ...cho qua chuyện.

Có tiếng lao xao nói “đến rồi bà con ơi .., tới đảo Pulau Bidong rồi”

Bao nhiêu con mắt đổ xô nhìn hàng rào đang rõ dần, thấy lớp người mặc đủ màu sắc đứng lô nhô rất đông.Tàu cập bến, tôi túm chặt lưng quần quá lỏng lẻo theo đoàn người bước xiêng qua xẹo lại như kẻ say rượu, vì ngồi hơn mười hai ngày trên tàu quay cuồng theo sóng biển, tóc ai cũng dựng đứng vàng khè như bôi đất sét, như thần chết trở về đang đi qua cầu Jetty. 

Tôi được đưa về khu Thanh Nữ nhập liên gia ở chung với cô Mẫn khoảng hai mươi tuổi, và chị Tâm trên bốn mươi tuổi. Mẫn đưa đơn tôi điền tên, tay tôi run run ghi tên với nỗi xúc động mạnh, vì từ nay tôi đã có “hộ khẩu” (danh từ sau 75), đã được chứng nhận lưu trú đàng hoàng,  từ đây sẽ được an ổn tinh thần, không như bao nhiêu năm làm dân ở lậu sống trốn chui trốn nhủi. Điều đầu tiên tôi thấy trên gác là Chuột rất to chạy qua chạy lại trước mắt, chẳng nể nang người gì hết, chị Tâm nói

- Qua đây sống chung, ngủ chung với Chuột một nhà, từ từ sẽ quen

Tôi nằm khép nép sợ hãi nhưng rồi mệt quá cũng thiếp luôn.

        Thức giấc vì loa phóng thanh vang lên mọi nơi sau giấc ngủ say buổi tối, đầu óc tôi đang còn lơ lửng những ngày trên biển, chưa định thần mình là ai, đang ở đâu thì nghe tiếng nói

- “Đây là đảo Pulau Bidong, tiếng nói của người dân Việt tỵ nạn Cộng Sản...” , sau vài thông báo như kêu gọi số tàu MB297 (tàu chúng tôi) sáng nay đi khám bệnh và lãnh lương thực, hoặc vài thông báo khác, kế tiếp bản nhạc “Đêm Tàn Bến Ngự” với giọng hát Thanh Thúy vang lên “Ai về Bến Ngự cho ta nhắn cùng, nhớ chăng non nước u hoài, có những ngày xanh ...thương nhớ ..bao tình ...” (Dương Thiệu Tước).

          Tôi chợt bừng tỉnh, biết chính xác mình đã thật sự xa rời quê hương, tim đập mạnh, người run lên… lâu lắm rồi tôi mới biết khóc trở lại, tôi ôm mặt khóc nức nở như chưa bao giờ được khóc… Chị Tâm nằm bên tôi cũng khóc… theo nỗi niềm của chị...Ở đây như một làng nhỏ Việt Nam, nhiều nghề sinh sống, chợ, hàng ăn, quán cà phê, giải khát ..v...v...có đầy đủ của những người sống lâu chưa có diện đi, hoặc đang chờ cứu xét hồ sơ. Sáng đó tàu MB297 được lãnh thực phẩm, khám bệnh, bà bác sĩ đều hỏi một câu giống nhau với tất cả những phụ nữ “kinh nguyệt ra chưa ?”, làm tôi nhớ lúc trên tàu, tâm lý căng thẳng đến mức nhiều phụ nữ ra kinh dầu không ai đúng chu kỳ.” Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt. Dăm bảy nụ cười không đủ xoá ưu tư” (Nguyên Sa). Nhiều tối chị em lên Chùa, đi ngang qua chiếc thuyền lớn bị nát một nửa, sắt rỉ vàng khè. Người ta kể truyền miệng rằng...

        Chuyến tàu đầu tiên của người Tàu Việt đi lạc vào khu quân sự hải phận Mã Lai, người trên tàu chết hết sau khi bị cảnh sát Mã Lai bắn đuổi đi nơi khác, không cho cập bến, thân tàu được kéo ra giữa biển khơi cho chìm, nhưng chiếc tàu cứ vẫn trôi dạt về lại Bidong, chỉ còn một ông già và cô gái còn sống sót, nhưng rồi cô gái cũng tắt thở, ông lão bò tới ngồi nghỉ mệt dưới gốc cây, cũng bị dừa rớt xuống trúng đầu gục chết tại chỗ luôn. Sau sự việc ấy, Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc ra lệnh đảo Bidong mở cửa đón thuyền nhân vượt biển, và bệnh viện Sickbay được xây nên. Nhìn chiếc tàu sắt đầy vết đạn tôi có cảm giác ớn lạnh, luôn thấy có hương đốt ánh sáng lập lè. 

         Ngày ngày tiếp tục những chuyến tàu tấp bến, tôi thường chạy ra xem có gặp người thân hoặc ai quen, lắm lúc chứng kiến cảnh phụ nữ được khiêng băng ca vào bệnh viện vì tàu bị hải tặc. Có em bé khoảng mười lăm , mười sáu tuổi ở đối diện trước mặt nhà, nghe những người đi chung chuyến với em, to nhỏ kể chuyện tàu bị cướp, vét sạch tiền vàng, lôi phụ nữ qua tàu họ làm chuyện tồi bại, khi lôi kéo dằn co, em bé này đã khóc lóc gào to

            “Lạy Chúa tôi ...con đâu có tội tình chi”

Chị Tâm nằm chung gác với tôi ...kể chuyến đi của chị gồm mười hai người, trên tàu chỉ có ba phụ nữ, trong đó một cô khoảng mười tám tuổi đi cùng chồng chưa cưới, gặp hai tàu tới húc mạnh vào tàu của chị tưởng chừng muốn bể đôi, hải tặc nhảy lên lôi ba người phụ nữ, nó giở trò nhưng thấy chị đang có kinh nguyệt, tát mấy bạt tai xô chị xuống tàu, chị chỉ biết lạy lục liên hồi, cô gái chống cự rất mãnh liệt, nó xốc lên, cô gái vật xuống, cứ như vậy vài lần cô đuối sức, nó xé toạt áo cô ra, anh chồng chưa cưới chỉ biết ôm mặt gục đầu, chúng bắt cóc hai phụ nữ đi luôn trong tiếng khóc nức nở của người chồng. Chị còn kể chuyện em trai đi cùng cháu gái theo một tổ chức đường bộ qua Thái Lan, đói rách tả tơi đến nơi là xỉu luôn sau nửa tháng băng rừng sâu nước độc. 

      Một tháng sống trên đảo tôi được chuyển qua trại Sungei Besi thuộc ngoại ô thành phố Kuala Lumpur thủ đô Malaysia, tôi được đưa về khu Thanh Nữ Độc Thân, phòng có mười người. Những đêm thao thức không ngủ, chị em kể cho nhau nghe về chuyến đi của mình. Chị A có đứa con trai bảy tuổi đem theo trên ghe chỉ mình chị là phụ nữ, bọn hải tặc kéo chị qua tàu, dụ cháu nhỏ các món đồ chơi rồi hiếp chị, bọn khốn dội nước lạnh vào mặt sau những lần chị ngất xỉu, rồi thay phiên nhau làm chuyện tồi bại cho đến khi có tàu buôn đến, chúng nó muốn phi tang tội lỗi nên giao chị lại, tàu buôn giúp đỡ hai mẹ con đưa về đảo. Chị được bệnh viện chăm sóc tận tụy sau thời gian dài nằm liệt người, sáng nào tôi cũng nghe loa phóng thanh gọi tên chị lên kiểm lại sức khỏe, lúc trở về chị cho xem thuốc ngừa thai cũng như thuốc đề phòng bệnh aids, may mắn tinh thần chị cũng vững mạnh vượt qua chưa bị điên loạn. Em C thường lên bệnh viện vì hay bị đau đầu, nguyên nhân tàu em gặp cướp, ba tàu bao vây húc mạnh vào tàu em, phụ nữ chạy xuống hầm trốn, em bị một tên cướp chụp đầu lôi lên, em ôm chặt song sắt ghì lại bị cướp túm tóc kéo giật mạnh, đang lúc dùng dằn thì tàu tuần tra trên biển chạy đến, bọn cướp buông ra nhảy về tàu mình phóng trốn nhanh. Chị H kể lại ...tàu bị lạc hướng lênh đênh hơn một tháng, đói khát kiệt sức chết từ từ, chồng và đứa con trai chị H cũng bỏ mạng, lúc gặp tàu quốc tế vớt chỉ còn lại vài người .

Ba tháng trôi qua tôi được phái đoàn INS (di trú Mỹ) mở hồ sơ tỵ nạn, phỏng vấn đậu, nhờ tiêu chuẩn cha quân nhân.Thay vì qua Phi học khoá Anh Văn trước khi đi Mỹ thì tôi được chuyển qua đảo Galang 2 vì tình trạng bên Phi quá đông. Tại Galang 2 mỗi ngày đi bộ bằng đoạn dốc dài có khu Miếu được dựng dưới gốc cây đa rậm lớn. Nghe kể lại miếu thờ hai chị em bị hải tặc hiếp, qua đây chờ diện nhân đạo hơi lâu, thỉnh thoảng bị lũ con trai chọc ghẹo, buồn nhục hai chị em rủ nhau ra đó treo cổ chết, bà con thương tâm nghĩ oan hồn uất ức nên lập trang thờ. Chúng tôi hết sức bàng hoàng xúc động, mỗi lần đi ngang đều dừng lại thắp hương cầu khấn cho vong linh họ được siêu thoát và lúc nào cũng thấy hương khói trái cây người ta đặt cúng. Bạn Hồng, Bình chung phòng năm 1977 đi bán chính thức, gia đình chia hai tàu, giữa biển tàu ba mẹ hai cô bị đắm chìm trước con mắt chứng kiến của các con. Hồng Bình nói hình ảnh ấy luôn hiện lại trong giấc mơ. 

     Tháng mười hai năm 1985 tôi đến Mỹ vào buổi chiều trời mưa lạnh, nhân viên hội USCC đứng chờ sẵn đoàn người để phát áo, bước đầu tiên đặt chân xuống phi trường San Francisco cho tôi cảm giác thật ấm áp dù trời đang rất lạnh, ấm thể xác với chiếc áo jacket dày màu cà phê sữa, tinh thần thoải mái đón nụ cười thân ái của nhân viên xã hội. Sau đó tôi thấy ba Lộc, ông Bác, anh Cả và Lộc đứng nơi hàng cổng đón. Về đến ngõ nghe mùi phở bay ngào ngạt do mẹ Lộc nấu. Bữa ăn đông đủ đại gia đình sum họp.

       Ngày thứ hai vợ chồng người em chủ lò bánh French Croissant ở vùng Sunnyvale, vừa bỏ mối vừa mở tiệm, công việc bề bộn nên xin chở tôi lên làm. Tôi được dạy roll bánh Croissant và các loại bánh khác, soạn tủ Sandwiches bán lunch, chung quanh hãng xưởng nên đa số khách Mỹ đến rất đông, lần đầu tiên nhận lương $4/ 1 giờ bằng check thật quý hoá.

         Ngày 25 đúng lễ Noel đám cưới tôi và sau đó tiếp tục đi cày tháng ba mươi ngày, mỗi ngày mười hai tiếng. Năm năm nơi tiệm bánh bị dị ứng mùi phấn bột suốt ngày nhảy mũi đến long đầu, tôi đổi công việc và được vào làm company Kyle Design về ngành mỹ thuật (các mặt hàng trang trí nhà cửa, bông tai, dây chuyền, các thứ trang sức) do cô Mỹ trắng điều hành, đúng sở thích và tôi được may mắn với công việc này hơn hai tám năm (28) cho đến ngày về hưu.

       Tôi thấy hãnh diện vì không là gánh nặng cho đất nước Hoa Kỳ, luôn sống với ý chí mạnh mẽ, siêng năng cần mẫn, một tinh thần tươi vui thoải mái, đầy đủ no ấm và quan trọng nhất là được hít thở không khí tự do.Tôi có hai mươi năm được sống dưới chế độ Cộng Hoà của miền Nam hạnh phúc no ấm, nay chỉ còn trong hoài niệm thời hoa mộng để nhớ để thương. Mười năm của sự hãi hùng căng thẳng, tâm trí rối loạn, thân xác rã rời, sống như bóng ma dật dờ cuối đường hầm đen tối, tôi đã đánh đổi bằng mạng sống với sự liều lĩnh, sẵn sàng chọn cái chết để tìm hai chữ tự do “tự do ơi tự do, em trả bằng nước mắt, tự do hỡi tự do, anh trao bằng máu xương...” (Nam Lộc), 10 năm có vết thương cắt sâu tâm hồn, đâm nhói trái tim. Hơn ba mươi lăm năm trôi qua như giấc mơ, tôi có được tất cả...thẻ An sinh xã hội, bằng lái xe, bằng quốc tịch của một nước nhân đạo che chở đùm bọc. Giấc ngủ mỗi đêm bình an, hít thở không khí tự do nơi xứ sở văn minh tiến bộ bậc nhất thế giới, nơi không bị đe dọa ép buộc đi kinh tế mới, không nhìn cảnh gian trá chụp mũ, nói một đường làm một nẻo của lãnh đạo Việt Cộng, 35 năm sống đời lưu vong, tôi được hồi sinh và đã xem đây là quê hương thứ hai của mình, 35  năm của niềm hạnh phúc hàn gắn cuộc đời còn lại.Tôi bắt tay vào công việc như những người Việt Nam khác bằng tất cả sự cố gắng và siêng năng, biết giá trị của sự sống còn, biết đất nước Mỹ đã cho mình có điều kiện thể hiện những ước mơ…

        Tôi biết mang ơn nên vẫn thường góp lòng chia sẻ gởi hội Hồng thập Tự khi nước Mỹ có tai họa, hoặc hội Thương phế Binh Hoa Kỳ, Homeless. Tôi luôn nhớ Xuân và Cô Nga vào dịp Tết từ ngày mới qua cho đến bây giờ. Tôi mang ơn chị Phi cho ngậm sâm , chị Nguyệt, Ôn Mạnh và nhất là gia đình Lộc đã hết lòng hỗ trợ. Tôi còn nhớ anh chị Tư Cầu đưa rước vượt biên dưới Rạch Giá lúc bị vào tù, tuy chuyến đi không thành, nhưng tình cảm họ cho là đã nhận, tôi nhớ các anh đánh cá… đó là điều làm tôi thấy buồn ấm ức vì chỉ biết ơn mà không trả ơn được. 

         Bao nhiêu năm cơn ác mộng luôn in sâu trong tâm trí tôi, ám ảnh từng chi tiết, vẫn luôn trở về trong giấc mơ từng giai đoạn.  “Thời gian như bóng câu vụt ngoài song cửa sổ”, đã hơn 35 năm trôi qua nhưng cuộc vượt biển tìm tự do thì như mới xảy ra hôm nào… còn rất mới...Tôi đã giật mình suy nghĩ: “..tại sao mình không để ngòi bút ghi tạc lưu lại cho con cháu đọc về sau, đây là kỷ niệm đáng giá của một đời người thập tử nhất sanh mà”. Nhắc những nhân vật có tên trong này, nhất là với các em nếu có dịp đọc, chắc sẽ giật mình ngạc nhiên thấy bà chị mình còn trí nhớ rất tốt phải không? Nhớ tất cả mọi chi tiết của tháng ngày tìm tự do, nhớ con tàu khi lên đảo được mang tên MB 297. Mời các em cùng sống lại với chị, trầm tư về hai chữ “tự do” và sự trả giá của nó, có điều may mắn là  nhóm “vào tù” năm xưa đều vượt biển trót lọt, chỉ là kẻ đến trước, người đến sau...Thiện nay đang sống bên Thụy Sĩ. Dũng cũng như hai chú cháu Phan, Văn đều ở Mỹ. Gia đình Ôn Mụ Mạnh (O Loan, O Hà định cư Tây Đức. Ôn  đã qua đời, O Loan cũng mất vì bệnh tim. Các em Dũng  Thiện, Văn đều ăn học thành tài lương cao, job lớn, cuộc sống ổn định vững vàng.

         Tháng ngày tìm tự do tôi đã viết xong, nhìn ra khung cửa mấy chậu Cúc, Mẫu Đơn, khóm hoa Hồng nở nụ khoe sắc hồng, tím, vàng đang là đà trước gió. Nắng nhạt nhòa, tôi luôn mê những buổi chiều vàng, hình như tâm hồn tôi đi rất xa, nơi thế giới của suối thơ và âm nhạc… Bản nhạc “Hương Xưa” của Cung Tiến tôi mê từ thời đi học, đang ru tôi mơ hồ hình ảnh thân yêu của quê hương, nay đã xa vời vợi…

“Người ơi một chiều nắng tơ vàng hiền hoà hồn có mơ xa

Người ơi đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò

Còn đó tiếng tre êm ru

Còn đó bóng đa hẹn hò

Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu ...”

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 3/2021

 

Ý kiến bạn đọc
30/04/202108:40:10
Khách
Mình Thuý xin chân thành cám ơn quý anh chị em đã đọc bài và có lời khích lệ tinh thần MT , đặc biệt anh Van Tran , anh Nguyên Bảo đã chia sẻ thêm kiến thức rộng rãi để MT học hỏi thêm rất quý hoá . MT rất vui được nhận sự yêu mến này với anh Triệu Bảo, bạn Liên , em Kim Hồ , Lê Võ .
MT có bài "Tháng Tư về" được BBT Việt Báo đăng mục ký sự . Nếu quý độc giả thích thơ thì trong bài viết này có 11 bài thơ đủ thể loại .
Lời sau MT kính chúc đến quý anh chị em mọi sự bình an và luôn được nhiều sức khỏe .
Mình Thuý
29/04/202117:30:06
Khách
Con đường tìm tự do quả thật lắm gian nan. Mỗi câu chuyện của thuyền nhân là một hoàn cảnh thương tâm. Cảm ơn tác giả Minh Thúy cho đọc bài viết rất xúc động.
26/04/202119:53:36
Khách
Qua mấy mươi năm xa xứ, không nhớ hết đã đọc bao nhiêu sách, báo về người vượt biên/vượt biển, bài nào cũng không thiếu những tình huống nghiệt ngã, bi đát, không nén được xúc động, thương tâm!
Thế nhưng, khi đọc bài Cái giá tìm Tự Do của Mình Thuý Thành Nội, cảm giác như đang đọc một một chuyện phim nghẹt thở, thứ nghẹt thở của trông chờ và sợ hãi từng giây từng phút giữa đại dương bao la từng là nấm mồ chôn hàng vạn sinh linh... mà con người thì nhỏ bé, yếu đuối đến mức gần như số không! Viết về một chủ đề đã được rất nhiều người viết trước, nhưng truyện của MT không những không bị mờ nhạt, nhàm chán, trái lại, còn cho cảm tưởng mới nguyên cách bất ngờ. Thì ra, bên cạnh ác độc, dã man còn có tình người! Ngư dân Miền Nam đã không từ hiểm nguy, ra tay cứu giúp không chỉ một lần! Các thuỷ thủ tàu dầu chỉ cách làm sao để được cứu mà họ không bị phạt. Tác giả khéo léo lồng những tình huống bi đát trong hành trình vượt biển của bạn cùng trại, làm cho bài viết trở thành một "bảng tổng hợp" những mối đe doạ, những tai ương mà giới thuyền nhân phải đối mặt...
Bài viết xứng đáng được lưu vào Văn Khố Thuyền Nhân hay Thư Viện Người Việt Tị Nạn CS!
Cảm ơn tác giả Mình Thuý Thành Nội!
23/04/202100:35:44
Khách
Năm 1979 là một năm khó khăn cho nước Mỹ và cho chính phủ Jimmy Carter vì giá nhiên liệu tăng cao và nguồn cung cấp nhiên liệu thì bấp bênh , kinh tế nước Mỹ có nguy cơ bị khủng hoảng, thêm nữa là có những khó khăn trong các vấn đề quốc tế.
Trong khi đó thì hàng ngàn người Việt đổ xô ra biển đi tìm tự do, nhiều người bị chết chìm, các trại tỵ nạn thì ứ đọng và xô bồ.
Thế nhưng phó tổng thống Walter Mondale đã thuyết phục được tổng thống Carrter ra tay cứu giúp người Việt ty nạn.PTT Mondale đã thuyết phục Bộ Ngoại Giao lên án những chính sách vô nhân đạo của Cộng sản Hà nội , thuyết phục TT Carter gửi Đệ Lục Hạm Đội đi cứu vớt người Việt ở biển cả. PTT Mondale đã thuyết phục TT Carter tìm thêm ngân quỹ để xúc tiến việc tiếp nhận người Việt, và tăng mức tiếp nhận người Việt lên gấp đôi , 14000 người mỗi tháng. Đài truyền hình CBS và báo New York Times khi đó làm cuộc thăm dò dư luận thì có đến 62 phần trăm người Mỹ không đồng ý với quyết định giúp đõ người tỵ nạn Việt nam của chính phủ Carter.
Ngày 20 và 21 tháng Bảy, năm 1979, PTT Mondale dẫn phái đoàn sang tham dự phiên họp của Liên Hiệp Quốc bàn về vấn đề dân tỵ nạn Đông Dương tổ chức ở Geneva ( Thuỵ sĩ). PTT Mondale ra sức thuyết phục các đại diện đến từ 65 quốc gia trên thế giới hãy thiết lập thêm các nơi tạm cư cho người tỵ nạn và gia tăng tiếp nhận thêm người tỵ nạn. Ông nói vào tháng 7 năm 1938, cộng đồng thế giới đã thất bại không hành động giúp đỡ người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết chóc, vậy lần này chúng ta hãy đừng tái phạm lỗi lầm lịch sử này nữa. PTT Mondale đưa ra kế hoạch 7 điểm trong đó ông kêu gọi thế giới hãy đòi hỏi Cộng sản Hà nội phải chấm dứt ngay chính sách vô nhân đạo và kỳ thị , ông kêu gọi các quốc gia hãy gia tăng gấp đôi mức tiếp nhận người tỵ nạn như nước Mỹ đang làm, hãy góp thêm quỹ để giúp đỡ các quốc gia nghèo đang phải lo cho người tỵ nạn...PTT Mondale cũng thúc giục các quốc gia hãy theo gương nước Mỹ gửi các tàu tới cứu vớt người tỵ nạn.
PTT Mondale tuyên bố " Lịch sử sẽ không tha thứ cho chúng ta nếu chúng ta thất bại. Lịch sử sẽ không quên chúng ta nếu chúng ta thành công “History will not forgive us if we fail. History will not forget us if we succeed.”
22/04/202108:06:09
Khách
Đọc bài viết thật hãi hùng về chuyện đi vượt biên , nhất là những nạn nhân bị hải tặc đày đọa thật thương tâm . Tàu được may mắn thoát chết lần gặp tàu Hải quân VC , lần mưa gió bão bùng , đúng là giao thân cho biển cả , nhưng may mắn gặp được tàu đánh cá tốt bụng cứu giúp tận tình . Sau lần liều mạng tìm đường sống , tác giả đã sống mạnh mẽ nơi xứ người . Bài viết đúng mùa Quốc hận đọc càng đau buồn hơn . Cám ơn tác giả đã cống hiến bài viết hay , diễn tả sống động , tâm hồn dạt dào thơ văn như người ta thường nói " Huế là thơ , Huế là mơ..."
22/04/202103:25:24
Khách
Một bài viết hay nhân mùa Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận sắp đến. Bằng lời văn sống động tác giả thuật lại cuộc chạy trốn khi muốn thoát thân khỏi nanh vuốt của bọn Quỷ Đỏ cho dù có thể gặp nguy cơ chết chìm ngoài Biển Đông.

Tổng thống Ronal Reagan : “Chấm dứt chiến tranh Việt nam không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong, bởi vì… cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh sau [tại Viêt Nam]”.

Milton Friedman - người đoạt giả Nobel về kinh tế năm 1976- : “Hãy nhìn bao nhiêu người từ xứ cộng sản bất chấp cái chết để vượt biên qua xứ tư bản, bao nhiêu đó cũng cho chúng ta thấy nhân loại đã bình chọn ra sao.”
21/04/202102:10:12
Khách
Chao` chi Minh Thuy'
Cam on chi dda~ chia xe~hanh` trinh vuot bien? rat' ly ky` va` hap dan~ Co giao' viet van co' khac' , that hay
97 nguoi` trong chuyen' ddi do' dduoc huong? sai' on phuoc' lanh`` may ma'n cua? chi dday' . Sau ngay` Saigon` ddut phim chi va` nguoi` yeu dda~ chia cach' nua~ vong` trai' ddat' biet bao gio` gap lai . Anh ay' lo cho bi ddi vuot bien dde? doan` tu. Co' may' nguoi` dduoc nhu* y' . Con tau` cua? chi dden' dduoc gian` khoan Malai nhu mot phep' mau` Bien? ca? menh mong 360 ddo ay' ma` cai' tau` ddanh' ca' ddo' lai ddi dung' vao` cai' toa ddo dde? gap dduoc con tau` chi ddang lenh ddenh nhu mot su mau` nhiem cua? DDang' be `tren dan~ dat' dde? chi dduoc gap lai anh nguoi` yeu sau bao nam xa cach' .
Sau ddo' chi lai kiem' dduoc viec lam` nhu y', suot 28 nam khong thay ddoi? dden' luc' ve hu*u That tuyet !
Moi~ nguoi` mot phan so' du` sao tinh' cach con nguoi` chi dda~ tao nen su may man' ay' Anh Loc dda~ yeu men' tinh' cach ddo' va` dda~ co' gang' lo cho chi ra ddi va`ket qua? that my~ man~
Men' chuc' anh chi luon khoe? manh dde? cong' hien' dden' ddoc gia? khap noi nhung~ bai` viet that hay va` nhung~ van` tho that lang~ mang.
Em Kim Ho
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 87,372
Gia đình đông con gái. Ông ngoại tôi làm nghề chẩn bệnh, bốc thuốc, là người giỏi Hán Nôm, ông viết chữ Nho rất đẹp nên lúc xưa nhiều người hay đến nhờ ông viết những câu đối để đi đám Tân gia, chúc mừng này nọ hoặc viết liễn cho đám tang. Bà ngoại sinh cho ông tôi cả đàn con gái, chỉ có một cậu nhưng cũng qua đời khi còn rất nhỏ. Mấy chị em gái của Má ai cũng trắng trẻo, đẹp gái. Má tôi xinh xắn, mặt tròn, môi chẻ giống ông ngoại y tạc, lại là người thông minh lanh lẹ, ham học chữ. Ở cái làng quê Quảng Nam xa xôi gần miền núi, hình như con gái trong làng đồng lứa chỉ có Má là chịu ôm tập đến trường học cho đến...hết lớp, thời đó chắc là xong bậc tiểu học. Đến lúc ông ngoại gả Dì Hai cho con trai một gia đình nhà buôn ở Hội An thì Má theo dì Hai học làm bánh trái, nấu ăn, thêu thùa may vá. Năm tròn mười tám tuổi, ông bà ngoại gả Má cho con trai út một địa chủ trong làng. Chưa biết mặt, chỉ biết mọi người hay gọi người đó là Cậu Mười. Dẫu không muốn, cũng không thể từ chối vì tục lệ ngà
Tháng Năm 2018, tại Việt Báo Gallery, có buổi ra mắt sách Anh ngữ "Finding My Voice—A Journey of Hope” của Crystal H. Vo tức Võ Như Ý, từng dự Viết Về Nước Mỹ từ 2009. Cô sinh năm 1970 ở Đà Nẵng, 15 tuổi vượt biên, định cư tại Mỹ năm 1986 với tên Crystal H. Vo. Kết hôn và thành con dâu một gia đình Mỹ, cô đã dành trọn thì giờ để học sống và viết bằng Anh ngữ.
Một tiếng động ngắn, gọn, của một vật gì nặng vừa rơi xuống nước, vang giữa không gian biển trời lúc ấy.Thời khắc ấy, tất cả đều im lặng trên chiếc ghe đầy người, đang trôi lênh đênh giữa biển Đông, chỉ còn tiếng sóng biển gờn gợn đập nhẹ vào mạn ghe. Một buổi sáng mai trên biển, biển rất êm, biển rất thanh bình, thế mà đã xảy ra một cuộc thủy táng trên biển. “Nam Mô A Di Đà Phật! Thương cho chị, cầu xin cho chị sớm được về nơi cỏi Phật!”Tiếng ai đó phá tan bầu không khí đang đặt sệt mùi chết chóc, lẩn ai oán, vừa đưa tiển một người xuống lòng biển. Hiền nằm đó trong phòng lái, nghe hết, nhưng không dám mở mắt ra, phải một lúc lâu sau, nàng mới dám hé mắt nhìn ra mặt biển, thế mà nàng vẩn nhìn thấy thân xác của một cô gái đang trôi dập dềnh cạnh chiếc ghe.
Tôi cũng không ngoại lệ, lớn tuổi rồi nên cũng đã buông bỏ được nhiều hỉ nộ ái ố cuộc đời, có cái mình tự buông, có chuyện thì trí nhớ như đám mây mù bảng lảng, lúc nhớ lúc quên. Nhưng rồi có vài mảnh đời trong quá khứ, chợt hiện lên mồn một như mới xảy vào hôm qua. Thôi thì ghi lại một lần để khép lại một trang đời chơi vơi buồn bã. Những quyết định xé lòng người khi phải từ bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, xa hết người thân yêu không mong một lần gặp lại. Đau lòng lắm chứ nhưng quê hương đã không cho mình một nơi chốn dung thân. Một lần đi là một lần vĩnh biệt!
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016 , Thảo Lan đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ năm thứ 19.
Hai năm sau, một người đàn bà Việt Nam, trạc tuổi trên sáu mươi và đứa con gái khoảng tuổi đôi mươi dọn vào căn nhà cuối xóm. Họ giữ nếp sống âm thầm và khép kín. Nhưng sự gặp gỡ thường ngày và cái tình đồng hương trên đất khách quê người đã đem lại sự cởi mở, thân tình… Chúng tôi được biết: Đứa con gái sang đây học y tá, cha mẹ còn ở trong nước, nhưng họ mua căn nhà này để cho con gái có nơi ăn ở, tiếp tục việc học hành. Còn người đàn bà nêu trên là cô ruột đứa con gái. Trước năm 1975, bà là giáo sư dạy việt văn ở trường Trung học Phan Chu Trinh – Đà Nẵng. Sau năm 1975, người chồng bị đưa vào “trại tập trung cải taọ”, còn bà “mất dạy”. Cuộc đổi đời dâu bể đem đến cho bà biết bao đau khổ - không thể tả hết bằng lời. Bảy năm sau chồng bà trở về, cuộc sống lúc bấy giờ vô cùng cơ cực…Phong trào vượt biên, vượt biển bùng phát. Đây là cơ hội cho vợ chồng thoát cảnh lầm than. Chồng bà vốn Sĩ quan Hải quân đã từng làm Hạm trưởng, nên có rất nhiều “mối lái” đến khẩn khoản yêu cầu ông lái thuyề
Tác giả sinh năm 1945 tại Quảng Bình, di cư năm 1954; Trước 1975: Sĩ quan Quân Nhu, xuất thân từ trường Sĩ Quan Thủ Đức, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Đến Mỹ năm 1995 theo diện HO, cư ngụ tại Virginia từ năm 1995 đến nay. Đồng sáng lập Vietnam Film Club từ năm 2010 với cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Đã thực hiện và phát hành trên 40 DVD hoặc Video trên YouTube gồm các phim tài liệu, các cuộc phỏng vấn các nhân vật lịch sử Việt Nam và ngoại quốc, trong số này có Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam, The Soul of Vietnam.
Tác giả sinh năm 1945 tại Quảng Bình, di cư năm 1954; Trước 1975: Sĩ quan Quân Nhu, xuất thân từ trường Sĩ Quan Thủ Đức, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Đến Mỹ năm 1995 theo diện HO, cư ngụ tại Virginia từ năm 1995 đến nay. Đồng sáng lập Vietnam Film Club từ năm 2010 với cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Đã thực hiện và phát hành trên 40 DVD hoặc Video trên YouTube gồm các phim tài liệu, các cuộc phỏng vấn các nhân vật lịch sử Việt Nam và ngoại quốc, trong số này có Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam, The Soul of Vietnam.
Mới đó mà thời gian qua thật mau, lại tới ngày tôi chuẩn bị cho một chuyến công tác mới vào đầu tháng 3 năm 2021. Lần này tôi sẽ đi Iraq, nơi mới nghe tên, ai cũng hình dung ra chiến tranh, chết chóc, khủng bố và nguy hiểm đang chực chờ. Mọi người trên thế giới vẫn còn nhớ cuộc chiến tranh do Mỹ và đồng minh dẫn đầu, lật đổ nhà độc tài Sadam Hussein vì tội ác diệt chủng người Kurd trong chiến tranh và sự xâm lăng đất nước Kuwait. Cuộc chiến Vùng Vịnh, Gulf War, kéo dài 6 tháng từ ngày 2 tháng 8, năm 1990 đến ngày 28 tháng 2, năm 1991.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.