Hôm nay,  

CÓ NHỮNG NGƯỜI CHA

10/06/202500:00:00(Xem: 3083)
 
TG Kim Loan
TG Kim Loan (bên trái) đang nhận giải Vinh Danh Tác Giả VVNM 2023

Tác giả tên thật là Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1966, là cô giáo tiểu học khi còn ở Việt Nam. Vượt biên và sống ở trại tỵ nạn Thailand từ 1989-1993. Định cư tại Canada từ 1994 đến nay. Tác giả nhận giải đặc biệt VVNM 2021 và mới nhận Giải Vinh Danh Tác Giả năm 2023.

***
 
Có những người Cha tôi đã gặp
Hiến dâng đời, phục vụ tha nhân
Sáng danh Chúa, sống Phúc Âm
Gieo lời Chân Lý xa gần nơi nơi …
(KL)
 
Đó là những vị linh mục mà tôi đã có dịp tiếp xúc trong thời gian bốn năm sống ở trại tỵ nạn Thái Lan. Nói về các Cha thời tỵ nạn thì có rất nhiều điều muốn nói, nhưng có nói thêm trăm ngàn lời cũng vẫn chưa đủ.

Ở trại, chúng tôi may mắn có được các Cha người Việt Nam (cũng là nguời tỵ nạn vượt biên). Các Ngài là những người khởi đầu lập nên nhà thờ đơn sơ đầu tiên nơi trại cấm Panatnikhom, viết tắt là Panat, (gọi là Trại Cấm vì chúng tôi là những thuyền/bộ nhân đến trại tỵ nạn sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa không nhận người tỵ nạn, nên chúng tôi bị xem là bất hợp pháp, phải ở Trại Cấm chờ nước sở tại thanh lọc, xét duyệt tư cách tỵ nạn).

Cuộc sống trong Trại Cấm khó khăn, dù Cao Ủy vẫn nuôi “báo cơm” nhưng nếu không có tiền viện trợ từ thân nhân nước ngoài thì làm sao chi phí cho những nhu cầu cá nhân, như xà bông, kem đánh răng, tem thư, nên các Cha đã liên lạcvới bên hải ngoại, vận động tài chánh cho trại mang tên “Hội Mekong”, phát tiền hàng tháng cho những gia đình tỵ nạn nghèo, không phân biệt tôn giáo. Dù số tiền ít ỏi, nhưng cũng trang trải phần nào cho đời sống trong trại. Cứ tới những ngày đầu tháng, tôi lại được nghe người ta hớn hở gọi nhau đến nhà thờ lãnh tiền Mekong, rất thân thương và ấm áp tình đồng loại, trong hoàn cảnh “một miếng khi đói bằng một gói khi no”.

Trong số các Cha ở trại (Cha Phan, Cha Hậu, Cha Lãm), thì tôi biết và gặp Cha Giuse Nguyễn Đức Hậu nhiều hơn. Biết Cha từ khi vào trại, nhưng từ khi tôi đậu thanh lọc trở lại Panat thì mới có nhiều dịp nói chuyện với Ngài. Ngoài việc hàng ngày đi lễ, thỉnh thoảng tôi và Cha có gặp nhau chuyện trò nơi văn phòng Cao Uỷ Định cư nơi tôi làm việc, và tôi thường xuyên đến nhà xứ mượn báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp về nhà đọc. Dù Cha đậu thanh lọc rất sớm, nhưng theo chỉ định của Tòa Thánh, Ngài phải hy sinh ở lại trông coi “giáo xứ tỵ nạn Panat” cho đến ngày trại chính thức đóng cửa hoàn toàn vào năm 1995-1996.

Khi tôi qua Canada, hai cha con lại có cơ duyên gặp nhau nhiều lần tại thành phố Edmonton khi Cha Hậu từ Oregon bay qua thăm Cha Giuse Đinh Văn Hoành (hồi ở trại là Thầy Hoành). Thầy lúc đó rớt thanh lọc, nhưng được Cha Hậu giúp giấy tờ bổ sung nên đậu tái thanh lọc và qua Canada tiếp tục vào nhà Dòng rồi thụ phong linh mục. Chẳng may, Cha Hoành mắc bệnh hiểm nghèo, và Cha Hậu từ Oregon nhiều lần qua Edmonton thăm Cha Hoành, tôi lại được dịp tháp tùng Ngài, nói chuyện xưa chuyện nay. Khi Cha Hoành mất, Cha Hậu cũng bay qua, đồng tế Thánh Lễ an táng tại giáo xứ Edmonton…biết bao nhiêu kỷ niệm biết nói sao cho vừa.

Cha Hậu cũng là người sốt sắng nhận lời viết giới thiệu cuốn sách Buồn Vui Đời Tỵ Nạn của tôi phát hành năm 2017. Ngài bảo, gì chớ, viết về trại tỵ nạn thì Ngài ủng hộ hai tay hai chân, bởi Ngài cũng muốn là một phần của quãng thời gian ấy, không bao giờ phai nhòa trong tâm trí của bất cứ ai đã từng trải qua, chia sẻ ngọt bùi đắng cay với nhau.

Nói về những linh mục ngoại quốc thì không thể không nhắc đến Cha Pierre Ceyrac, vị linh mục dòng Tên người Pháp đáng kính, với tấm lòng hiền hậu bao la. Tất cả những ai từng đến trại tỵ nạn Thailand, đường bộ hay đường biển, đã một lần gặp Ngài, đều quý mến yêu thương Ngài và âu yếm gọi Ngài là vị Thánh sống giữa trần gian.

Ngài có mặt ở trại tỵ nạn rất sớm, đầu thập niên 1980s, khi mà những xung đột ở đất nước Cambodia vào thời kỳ nhiễu nhương, quân đội Hunsen đánh bật thể chế Polpot và Khmer Đỏ, hàng ngàn người dân Cambodia lũ lượt chạy về vùng biên giới Thailand lánh nạn. Lúc đó, phong trào vượt biên bằng đường bộ và đường biển của người Việt Nam đang ở cao trào, và những trại tỵ nạn vùng biên giới được lập nên cho tất cả những người vừa đến bờ tự do.
Thời gian này, Cha Pierre đã có mặt giúp đỡ đồng bào mình. Vì chưa có bưu điện ở trại tạm biên giới, nên Cha dùng hộp thư của mình cho dân tỵ nạn Việt Nam liên lạc với thân nhân ở quê nhà cũng như ở nước ngoài. Thế là hàng tuần, người tỵ nạn mong ngóng chiếc xe truck màu nâu của Cha dừng trước cổng trại, chờ bóng cao gầy của Ngài bước xuống với nụ cười tươi rất hiền, đôi mắt trìu mến đầy yêu thương sau cặp mắt kiếng to, trên vai Cha là cái túi màu đen, có những lá thư, và đôi khi Cha còn mang thêm bánh kẹo cho trẻ con và thuốc lá cho thanh niên đàn ông.

Có một lần, những tên lính Thái dở chứng, kiểm tra túi thư của Cha rồi quyết định tịch thu những lá thư đó, không biết Cha năn nỉ gì với họ, nhưng nhìn mặt Ngài rất đau khổ vì sợ mất thư của người tỵ nạn, cuối cùng bọn họ quyết định, nếu Cha chịu chui qua gầm xe truck của Cha thì sẽ được vào trại đưa thư. Tội nghiệp thay cho Ngài, dù là người gầy gò, nhưng với dáng cao nghều, những người tỵ nạn đã chứng kiến vị Cha già 70 tuổi bò lê lết chui qua gầm xe mà xót xa. Đường đất đỏ và sỏi đá làm cho quần áo Ngài lấm lem và mồ hôi nhễ nhại, vậy mà khi chui qua xe xong, Ngài nhanh nhẹn đứng dậy cười tươi rạng rỡ mang thư đến cho những người đang mong chờ.

Câu chuyện nổi tiếng về hình ảnh người Cha già, cứu tinh của dân tỵ nạn ở vùng biên giới được loan truyền khắp nơi. Khi tôi đến trại Panat thì toàn bộ dân tỵ nạn người Việt vùng biên giới Thái-Miên cũng được đưa về đây, Cha Pierre Ceyrac không làm việc chính thức cho trại Panat nhưng thỉnh thoảng Ngài vẫn vào thăm đồng bào tỵ nạn kết hợp với chút công việc. Tiếng tăm và ảnh hưởng của Ngài được chúng tôi ghi nhớ và luôn khao khát được gặp Ngài.

Hôm ấy tôi đang ngồi bên phòng bưu điện làm việc, nhìn qua cửa sổ đối diện văn phòng Mental Health, một phụ nữ dắt theo đứa con gái nhỏ vừa bước ra khỏi phòng (chắc vừa lấy thuốc xong), thì Cha Pierre đi ngang qua, chị ấy mừng rỡ chặn đường Cha, ôm tay Cha vừa nói vừa khóc nức nở bằng tiếng Việt, Cha không hiểu gì, vẫn bình tĩnh mỉm cười, mời chị trở lại văn phòng với anh phiên dịch. Anh bạn tôi là người phiên dịch ấy, kể lại rằng, khi vào văn phòng, chị ấy tâm sự với Cha, chị đang rất đau khổ vì người chồng ở Mỹ vừa viết thư báo tin đã có người đàn bà khác nên không thể bảo lãnh mẹ con chị được, chị bị khủng hoảng tinh thần, phải vào phòng Mental Health lấy thuốc uống, tình cờ gặp Cha hôm nay, chị thấy nơi Cha toát ra sự nhân từ, đầy lòng ủi an, nên chị liều xin gặp Cha để giải tỏa nỗi lòng bởi chị không có đạo, không đi lễ nhà thờ và chưa bao giờ nghe về Cha! Nghe vậy, Cha lặng người đi, xúc động, nét mặt đăm chiêu trìu mến, ôm hai mẹ con chị, rồi thông qua người phiên dịch, Cha nói chuyện với chị, để chị tâm sự hết cõi lòng.

Mỗi lần đi trong trại, dáng cao gầy của Cha lập tức được mọi người nhận ra, trẻ con người lớn đứng hai bên đường giờ tay chào đón, Ngài luôn nở nụ cười hiền rất trong sáng ngây thơ, đáp lại tấm chân tình của đồng bào tỵ nạn, có khi còn dừng lại xoa đầu vài đứa trẻ rồi lại bước đi.

Sau khi rời trại tỵ nạn Thái Lan, Ngài qua Ấn Độ tiếp tục sứ vụ mới, sống giữa những mảnh đời nghèo khó và bất hạnh không phân biệt tôn giáo, vì đối với Ngài tôn giáo chính là con người.

Nơi đó cũng là hành trình cuối cùng của Ngài trên trần gian, Ngài được Chúa gọi về ngày 30/5/2012 tại Madras, India, hưởng thọ 98 tuổi, trong sự tiếc thương của các con chiên khắp nơi. Những dòng chữ này hôm nay là nén hương lòng tôi gửi đến Cha Pierre kính yêu, mà tôi đã may mắn được gặp gỡ, nói chuyện và chụp hình với Ngài, và lời nói của Ngài chúng con xin mang theo làm hành trang cuộc đời: “Cái gì không cho đi thì sẽ mất” (What is not given is already lost).
 
Cuối cùng, (như tiếng Anh có câu, last but not least-cuối nhưng không phải là hết), tôi xin dành sự ưu ái sau đây, cho Cha Peter Prayoong Namwong, cũng là một vị ân nhân khác của dân tỵ nạn Việt Nam tại Thái Lan.

Theo lời Cha kể, tổ tiên của Cha là người Việt Nam, từ 300 năm trước trong cuộc bách đạo, đã phải chạy trốn xuống Rạch Giá, rồi lưu lạc qua tỉnh Ratchasima, Thailand cho đến nay.

Những ai vượt biên qua Thái Lan sau ngày đóng cửa 14/3/1989 đều có một hành trình chung: ở trại Panat một thời gian, rồi được chuyển về trại Sikiew chờ thanh lọc, rồi sau khi có kết quả thì được về lại Panat chuẩn bị định cư nước thứ ba. Và tại Sikiew, Thiên Chúa đã mang đến cho chúng tôi một vị ân nhân mới, một mục tử nhân lành để ủi an, giúp đỡ chúng tôi qua những năm tháng khó khăn nơi đất tạm dung.

Những người đi đến trại sớm, đầu thập niên 1980s kể lại rằng, trên trại Sikiew lúc ấy, Cha đã tất bật xin tiền ở khắp mọi nơi trên thế giới để xây trường học “Our School” từ lớp 1 đến lớp 9, tiếp theo là xây bệnh viện chữa bệnh (có luôn khu vực sinh sản, phụ khoa). Cha còn thành lập Trung Tâm Minor để nuôi nấng các em dưới 18 tuổi qua trại một mình không có thân nhân, ngoài ra Cha còn có quỹ để trợ cấp cho những gia đình tỵ nạn khó khăn, có con nhỏ, và để phục vụ nhu cầu giải trí của dân tỵ nạn, Cha mướn Drive-in Movie Company vào trại mỗi năm vài lần chiếu phim, mỗi lần chiếu khoảng 5-6 phim liên tục, xem từ tối cho đến sáng, thực sự là ngày hội được mong chờ nhất của đời tỵ nạn ngày dài buồn tênh.

Những “di sản” đó, chúng tôi, những kẻ “trâu chậm uống nước đục”, đến trại tỵ nạn muộn màng, vẫn còn được hưởng ké. Đó là ngôi nhà thờ kiên cố khang trang, xây bằng gạch, nằm dưới chân bãi đá. Đó là bệnh viện có đầy đủ phòng ốc, dụng cụ y tế, là chương trình tiền trợ cấp hộ nghèo neo đơn. Nhưng “di sản” lớn nhất mà chúng tôi rất hạnh phúc đón nhận, chính là Cha Peter NamWong, người nuôi dưỡng đời sống tinh thần của tất cả người tỵ nạn, không phân biệt tôn giáo.

Tuy chúng tôi được bảo vệ bởi Cao ủy Liên Hợp Quốc, nhưng phép Vua vẫn thua lệ làng. Những lần Cha Namwong vào trại làm lễ thỉnh thoảng vẫn bị lính Thái làm khó dễ, và Cha lại luôn nhớ xã giao quà cáp để được vào trại suông sẻ với đoàn chiên. Chẳng ai quên được những buổi sáng Chúa Nhật, từ 10 giờ, nhiều người đã chỉnh tề áo quần, ngồi rải rác từ bãi đá cho đến cổng trại, trông ngóng chiếc xe của Cha Namwong dừng lại, tươi cười bước vào, cả trại rộn ràng xôn xao trở về ngôi nhà thờ bé nhỏ chờ đón Thánh Lễ.

Nhưng tỵ nạn cuối mùa cũng phải đến ngày kết thúc, những người may mắn đậu thanh lọc được chuyển về Panat chờ đi định cư, và những ai rớt thanh lọc ở lại Sikiew được khuyến khích tự nguyện hồi hương, và sau đó là cưỡng bách hồi hương năm 1996. Khoảng tám chục người, đã lần lượt trốn ra ngoài trại trong những khoảng thời gian khác nhau, tìm đến giáo xứ Cha Namwong, lập tức được Cha tận tình gửi gắm ở nhờ những gia đình con chiên trong xứ, giúp họ kiếm việc làm, sinh sống. Cha đã vận động Toà Giám Mục Bangkok can thiệp cho những đồng bào này được tạm trú (dù bất hợp pháp) tại Thái Lan.

Thời gian trôi qua hơn 20 năm, có người lập gia đình, sinh con cái, chuyển lên Bangkok hoặc các vùng phụ cận sinh sống, rất nhiều người trong số họ không phải đạo Công Giáo, nhưng mỗi năm vào ngày sinh nhật Cha, họ lại tụ tập về vùng Sikiew (Ratchasima), đến nhà Cha quây quần, dự Thánh Lễ, tâm tình với Cha, mong ngày được đổi đời ở xứ tự do.

Tạ ơn Chúa, cũng nhờ Cha kết hợp với các luật sư và thiện nguyện viên của tổ chức VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment) miệt mài vận động với chính phủ Canada, những gia đình tỵ nạn cuối cùng này đã qua đến Canada. Trong những chuyến bay này, Cha Namwong luôn đồng hành tiễn đưa bà con đến tận phi trường, lên máy bay, thậm chí có đôi lần Cha còn bay qua bên Canada rồi mới an tâm bay về Thái Lan.

Trong nhóm những người tỵ nạn đến Edmonton mà tôi cùng Hội Người Việt cùng ra sân bay đón chào, có lần tôi có hỏi một người bạn trẻ:

- Vậy là 25 năm sống trên đất Thái, cũng là 25 năm xa quê! Khi có quốc tịch Canada, em sẽ về thăm gia đình cha mẹ ở Việt Nam chứ?

Em ấy đã trả lời không cần suy nghĩ:

- Thưa chị, nơi đầu tiên em về thăm chính là Thailand và Cha Prayoong Namwong, bởi nếu không có sự đùm bọc che chở của Cha thì chúng em không có ngày hôm nay. Với em, Cha chính là người sinh ra em lần thứ hai.

Với truyền thống biết ơn của người Việt, năm 2013 những cựu thuyền nhân tỵ nạn Thailand đã mời Cha Namwong một chuyến Mỹ du (con chiên tỵ nạn của Cha ở khắp mọi nơi trên thế giới nhưng đông đảo nhất là ở Mỹ). Trong hành trình 25 ngày ở Mỹ, Cha đã đi nhiều tiểu bang, nhiều thành phố, thăm thú các con chiên (và kể cả những người ngoại đạo), nhắc lại bao kỷ niệm của thời gian ở trại tỵ nạn dưới bàn tay chăm sóc của Cha.

Ở hai thành phố lớn tại California, là Orange County và San Jose, những cuộc đón tiếp Cha rất tưng bừng, đậm tình thương yêu. Họ choàng cho Cha những vòng hoa nhiều màu sắc, mọi người vây quanh người Cha thân yêu nay đã già để tỏ lòng tri ân đậm đà sâu xa.

Tôi rất xúc động khi xem trên Youtube cuộc phỏng vấn Cha do đài Hương Quê tại San Jose thực hiện, không phải vì Cha đã già đi theo thời gian, nhưng bởi Cha đã trả lời phỏng vấn hoàn toàn bằng tiếng Việt, dù có phần phát âm và dùng từ chưa chính xác. Điều đó nói lên sự gắn bó mấy mươi năm qua của Cha với người Việt tỵ nạn ở Thái Lan, bởi thời gian ở Sikiew, Cha không biết nói tiếng Việt, vào trại phải có thông dịch, và khi làm lễ thì Cha giảng bằng Tiếng Anh rồi có Thầy giảng lại cho cộng đoàn.

Cũng trong chuyến thăm miền Bắc Mỹ, khi Cha đến Canada có đi qua Toronto, Calgary và đến Edmonton, thành phố của tôi trước khi bay qua Vancouver. Thật vui và xúc động khi tôi được đón Ngài, gặp lại Ngài, khi mà cả Cha và các con đều …có tuổi. Nhìn những nếp nhăn trên khuôn mặt Cha, tôi vẫn nhận ra một vị linh mục có nụ cười hiền, bao dung như đã từng thấy ở Sikiew thuở nào.

Năm 2022 Cha lại có một chuyến Mỹ du, mà Cha gọi là chuyến cuối cùng vì sức khỏe bắt đầu yếu kém. Cuộc đón tiếp và tiễn biệt Cha lần này có nhiều cảm xúc đặc biệt, ai cũng luyến lưu ôm Cha, nắm tay thật chặt, rồi nhìn theo bóng Cha già vẫy tay với nụ cười lặng lẽ mà rưng rưng.

Mới ngày nào đây, Cha còn trẻ trung khỏe mạnh, hoạt động dọc ngang nơi đất Thái, mười mấy năm trường, sau đó là hơn hai mươi năm bảo bọc chở che những người tỵ nạn “bất hợp pháp” cho đến ngày họ được tái định cư an toàn ở nước thứ ba.

Vậy là gần năm mươi năm của một đời người, Cha đã gắn bó với người tỵ nạn, một cơ duyên của định mệnh đã sắp đặt, là một sự may mắn lớn lao cho người tỵ nạn Việt Nam tại Thái Lan.

Những thông tin về Cha Pierre Ceyrac hoặc Cha Peter NamWong, ai cũng có thể tìm kiếm được trên internet, riêng tôi viết bài này như là một kỷ niệm nhỏ bé với hai vị Linh Mục đáng kính.

Trong những ngày này Giáo Hội Công Giáo vừa có Đức Giáo Hoàng mới, Cha Leo XIX, chúng con dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ, vì đã dẫn đưa những vị Linh Mục đến với chúng con trong giai đoạn khó khăn lưu vong trên mảnh đất trại tỵ nạn.

Cũng trong năm nay, tưởng niệm Năm Mươi Năm ngày mất nước, ghi dấu hàng hàng lớp lớp người Việt Nam chạy trốn Cộng Sản, ra khơi tìm tự do, chúng ta xin được tri ân những đất nước tạm dung đã mở rộng vòng tay chào đón những đoàn người tỵ nạn từ năm 1975 đến 1996.

Xin được tri ân những người thiện nguyện viên từ khắp nơi, những vị ân nhân, trong đó có những “Người Cha” mà tôi đã may mắn được gặp gỡ và có những kỷ niệm không bao giờ quên.
 
Edmonton, Tháng 6/2025
KIM LOAN
 
 

 

Ý kiến bạn đọc
12/06/202516:02:19
Khách
Có những người Cha hiến dâng đời phục vụ tha nhân :
Linh mục Trần Công Vang thuộc Dòng Chúa Cứu Thế đã đến Hồng Kông để giúp đỡ các thuyền nhân Việt Nam trong các trại cấm và thăm viếng an ủi những người bị giam tại nhà tù Victoria. Linh mục Vang chỉ trở về Mỹ khi các trại này bị đóng cửa.
Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam như Nguyễn Trung Thành, Hồ Đắc Tâm, Trương Hoàng Vũ, Lê Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Cương, Lê Xuân Lộc, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Đinh Hữu Thoại, và còn nhiều linh mục khác đã trực tiếp giúp đỡ cho các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Tiền bạc, thuốc men, tặng phẩm khi có ai gởi về cho thương phế binh thì các linh mục rất minh bạch công khai công bố hết trên trang nhà của Dòng Chúa Cứu Thế.
v.v...
12/06/202514:53:58
Khách
"Nữ tu sĩ quỳ gối xin cảnh sát Myanmar không bắn người biểu tình
10/03/2021
Nữ tu sĩ Ann Rose Nu Tawng quỳ gối ở thành phố Myitkyina (miền Bắc của Myanmar) vào hôm 8/3/2021 phía trước các nhân viên cảnh sát vũ trang và xin họ tha mạng cho người biểu tình. Bà nói, họ có thể đoạt mạng của bà để thế vào đó.
Hình ảnh một sơ Công giáo đối diện với lực lượng của chế độ Myanmar như trên đã lan truyền nhanh chóng và nhận được sự khen ngợi của cả cộng đồng Phật giáo chiếm đa số tại Myanmar.
Hôm 9/3, nữ tu sĩ này nói: “Tôi đã quỳ xuống, cầu xin họ đừng bắn những người biểu tình, mà hãy bắn tôi để thế vào đó”.
Người biểu tình đổ xuống các con phố của Myitkyina (thủ phủ bang Kachin) vào hôm 8/3, đội mũ cứng và các tấm khiên tự chế, để phản đối quân đội lên nắm quyền (sau cuộc đảo chính ngày 1/2) và bắt giữ nhà lãnh đạo dân sự Aung San Suu Kyi.
Chính vào lúc này sơ Ann Rose Nu Tawng quỳ trên mặt đất để cầu xin cảnh sát kiềm chế.
Đầu tiên Ann Rose Nu Tawng thấy một người đàn ông bị bắn và gục ngã ngay trước mặt bà. Kế tiếp bà cảm nhận được vị cay xè của hơi cay do cảnh sát phun.
Một đội giải cứu tại chỗ xác nhận với hãng tin AFP của Pháp rằng hai nam giới đã bị bắn chết tại hiện trường trong cuộc biểu tình hôm 8/3.
Đây không phải là lần đầu tiên sơ Ann Rose Nu Tawng đối mặt với lực lượng an ninh trên phố. Hôm 28/2 bà cũng từng cầu xin tương tự như hôm 8/3/.
11/06/202517:07:33
Khách
Bài viết hay thật cảm động, cảm ơn Kim Loan, chờ bài mới của em.
11/06/202500:05:55
Khách
Một bài viết thật hay về các Cha đã thay mặt Thiên Chúa ban an phúc giúp đỡ hết lòng hết sức cho các người VN tị nạn. Cám ơn tác giả Kim Loan. Tôi là đọc giả trung thành của chị .
10/06/202522:41:49
Khách
Cảm ơn tác giả một bài viết hay.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 501,605
Lúc còn ở Việt Nam, tôi nghe nhiều lời đồn về nước Mỹ. Thiên hạ đồn dân Mỹ có đời sống sung sướng lắm. Ai cũng có nhà lầu xe hơi đầy đủ. Tiền của ê hề mặc tinh mà phung phí. Cuộc sống thượng luu phong phú như vậy nhà nào cũng đầy đủ tiện nghi du lịch ăn uống xả giàn, lúc nào củng tiền đô đầy túi xài tiền quăng qua của sổ rớt đất chẳng hề cong lưng mà lượm. So với Bạch công tử, Hắc công tử của Việt Nam thì thua xa, nói ra chỉ mắc cỡ mà thôi. Còn thua thiệt nhiều. Đối với xã hội Mỹ, dân Mỹ một hai ngàn đô mà nhằm nhò gì, chuyện nhỏ, không đáng khom lưng lượm chi cho mỏi lưng.
Di dân sau năm 1975 là một hành trình di dân chính trị trong lịch sử Việt Nam. Hàng trăm ngàn người đã liều mình băng qua Campuchia, tìm đường đi vào Thái Lan. Hoặc họ vượt biển bằng những con thuyền gỗ mong manh, không bản đồ, không lương thực đầy đủ, không phương tiện liên lạc hiện đại. Họ được gọi là “bộ nhân” và “thuyền nhân,” hai cụm từ đã trở thành biểu tượng của một giai đoạn lịch sử của Việt Nam và của cả thế giới.
Năm ngoái tôi đã mất người con trai, con tôi ra đi ở lứa tuổi bốn mươi, lứa tuổi mà Ông Khổng Tử dạy”Tứ thập nhi bất hoặc”. Lứa tuổi mà lẽ ra người đàn ông đang gặt hái thành quả của đời mình, xây dựng hạnh phúc gia đình, trở thành chỗ dựa cho cha mẹ già. Thế nhưng con tôi không kịp đi tiếp con đường ấy, đã ra đi quá sớm, để lại cho tôi một khoảng trống không bao giờ lấp đầy được. Từ ngày con mất, tôi vẫn sống nhưng không trọn vẹn niềm vui nào. Có những lúc ngồi một mình , tôi nghe, hình như tiếng con trai vẫn đâu đây. Từng bước chân quen thuộc, tiếng con gọi “Mẹ ơi…” Nhưng tất cả đều là ký ức. Đêm về, tôi trằn trọc, nước mắt thấm gối, tôi thầm gọi tên con... Mấy hôm nay, tôi nghe và đọc nhiều tin về một anh thanh niên ba mươi hai tuổi, bị bắn chết. Lòng tôi quặn thắt. Tôi tưởng tượng đến cha, mẹ của cậu ấy, đến người vợ trẻ, đến những đứa con thơ, đến cả gia đình. Họ chết lặng vì hung tin. Tôi thấy nỗi đau của mình hòa quyện trong nỗi đau của họ.
Nguyễn Văn Tới - Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018, giải vinh danh Tác Phẩm 2019 và giải vinh danh Tác giả, Tác phẩm 2021. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ông định cư tại Mỹ từ 1990, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Đây là bài đầu trong truyện vừa mới nhất của Ông, viết theo dạng tiểu thuyết, chia làm nhiều kỳ. VB chọn đăng trong mục VVNM để các tác giả VVNM đã quen thuộc với ngòi bút của Ông dễ tìm. Mời đọc NGÀI CHÁNH ÁN - III.
Lịch sử Việt Nam là một dòng lịch sử của những cuộc di dân, khởi đầu từ giai đoạn lập quốc cho đến thời hiện đại. Trong dòng lịch sử ấy, làn sóng di dân sau biến cố năm 1975 đánh dấu một chương sách đặc biệt. Hàng trăm ngàn người Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 rời bỏ quê hương, vượt đại dương hay băng rừng vượt núi trong sợ hãi, với khát vọng tự do, và niềm hy vọng vào một tương lai. Tại những bãi thuyền ở Việt Nam, họ đối diện với cầm tù nếu bị bắt. Trên biển hoặc đường bộ, họ bị hải tặc hoặc thổ phỉ tấn công. Tại những quốc gia vùng Đông Nam Á, họ biết thuyền gỗ có thể sẽ bị đẩy ra khỏi đất liền. Tại những trại tỵ nạn, họ kiên nhẫn đợi chờ ngày được phỏng vấn, lên đường tái định cư.
Tấm hình trẻ trung và khắng khít của cặp Tân và Yến rơi ra khỏi quyển album khi tôi đang sắp lại ngăn tủ; ký ức chợt quay về 25 năm trước, ngày chúng tôi họp nhóm bạn học cũ lần đầu tiên tại Orange County, Hoa Kỳ, ở nhà của cặp Hà-Tuấn sau 15 năm chia cách kể từ ngày miền Nam thay áo đỏ, mỗi người chúng tôi bị phân tán, như bầy nai lạc. Tôi nhớ lúc đó chúng tôi đứa nào cũng mới lập gia đình được vài ba năm, bọn con gái ở lứa tuổi 27, 28, tứ tán khắp nơi trên thế giới, ai cũng dắt chồng đi cùng trong những buổi họp lớp cũ...
Biến cố đau thương 9-11 đã xảy ra cách đây 24 năm, vẫn còn là một bi kịch đau thương trong lòng người Mỹ. Bộ Quốc Phòng Mỹ quyết định bằng mọi giá, phải bắt cho được Osama Bin Laden, OBL, kẻ chủ mưu khủng bố, bắt hắn phải đền tội để làm gương cho những tên khủng bố khác. Chiến dịch Neptune Spear, Cây Chĩa Ba của thần Hải Vương Tinh, được lên kế hoạch để săn đuổi và sau 10 năm âm thầm nhưng quyết liệt, đã bắt và giết chết tên trùm này tại Pakistan.
Nguyễn Văn Tới - Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018, giải vinh danh Tác Phẩm 2019 và giải vinh danh Tác giả, Tác phẩm 2021. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ông định cư tại Mỹ từ 1990, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Đây là bài đầu trong truyện vừa mới nhất của Ông, viết theo dạng tiểu thuyết, chia làm nhiều kỳ. VB chọn đăng trong mục VVNM để các tác giả VVNM đã quen thuộc với ngòi bút của Ông dễ tìm. Mời đọc NGÀI CHÁNH ÁN - II.
Lễ Lao Động Mỹ sắp đến. Nhà nào có trẻ con còn đi học lại bận rộn túi bụi chuyện sắm sửa cho niên học mới. Nhưng những người nôn nóng nhất, lại là các cậu Tú cô Tú vừa xong trung học, chuẩn bị dọn nhà vô nội trú (dorm). Cuộc sống của tân sinh viên hoàn toàn khác hẳn lúc còn ở nhà. Nếu học trường công của tiểu bang đang ở, tiền học thấp. Nếu ngoài tiểu bang, sẽ tăng gấp đôi. Trường tư không tính theo địa chỉ cư ngụ.
Nguyễn Văn Tới - Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018, giải vinh danh Tác Phẩm 2019 và giải vinh danh Tác giả, Tác phẩm 2021. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ông định cư tại Mỹ từ 1990, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Đây là bài đầu trong truyện vừa mới nhất của Ông, viết theo dạng tiểu thuyết, chia làm nhiều kỳ. VB chọn đăng trong mục VVNM để các tác giả VVNM đã quen thuộc với ngòi bút của Ông dễ tìm. Mời đọc NGÀI CHÁNH ÁN - I.
Nhạc sĩ Cung Tiến