Hôm nay,  

Bài Ca Vọng Cổ Đầu Tiên Và Cuối Cùng

30/03/201300:00:00(Xem: 270761)
viet-ve-nuoc-my_190x135Tác giả nguyên là một sĩ quan hải quân VNCH, một nhà thơ quân đội. Sau tháng Tư 1975, ơng là người tù chính trị, định cư tại Mỹ theo diện H.O., hiện là cư dân San Diego. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ những năm đầu tiên, Phạm Hồng Ân đã nhận giải danh dự 2012. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

I.
Tôi nhớ căn phòng này anh hai tôi nằm. Tấm màn xanh che ngang, phía trong là chiếc giường chị hai tôi, kề cận... để hai vợ chồng có thể trông nom nhau trong những đêm hôm vắng lặng, nơi khu nursing home cổ kính này. Tôi nhớ số phòng, tất cả con số cộng lại bằng con 3. Đây là second floor. Vậy chỉ có phòng 201 hay 210 mà thôi. Phòng 201 tôi đã đến rồi. Đó là phòng có hai ông già Mỹ ốm nhách ốm nhom, vừa thấy tôi bước vô, hai ông đã vội vàng xổ một tràng ho xù xụ để chào mừng. Còn phòng 210 thì là phòng của hai bà già mập ú. Họ cũng giương cặp mắt kèm nhèm ngó tôi trưng trửng, như ngó người hành tinh lạ vừa lạc vào cõi trần ai lai khổ. Tôi gãi đầu, tháo lui, rồi đi ngược ra hành lang, vòng phía cầu thang thoát ra bên ngoài.

Đặt đít xuống cái băng gỗ nhơm nhớp cát bụi, tôi kiểm soát lại trí nhớ lem nhem của mình một lần nữa. Một tháng trước, anh chị hai tôi nằm đây. Một tháng sau - thời gian quá dài, bao nhiêu cuộc đổi thay có thể xảy ra? Biết đâu anh hai tôi nhuốm bệnh nặng phải chuyển đi nơi khác? Biết đâu chị hai tôi đã bình phục, trở về với gia đình? Trong lúc tôi đang phân vân với những nghi vấn nặng nề thì có giọng ca vọng cổ mùi mẩn cất lên, làm đầu óc tôi dịu lại và trái tim bắt đầu se thắt.

"Những thân cây cao là những thân cây chịu nhiều phong ba bão táp, nhưng là những thân cây bám sâu vào đất, bền bỉ trung kiên ngăn gió dữ mưa...cuồng".

Giọng ca của một chàng thanh niên nào đó, phát ra từ phía sân sau Nursing Home. Giọng ca bất ngờ đã làm tôi xúc động. Không phải vì lời ca hay, cũng không phải vì người ca điêu luyện, mà vì nó kéo tôi trở về một kỷ niệm xót xa, vì bài vọng cổ đó là bài chính tay tôi viết ở trong một trại tù, và chỉ dành riêng cho một người...

Tôi luống cuống mò xuống sân sau, nơi có bóng mát của những hàng cây phơi lá dưới ánh nắng ban trưa. Cậu thanh niên vừa ca vừa đẩy xe lăn cho một ông cụ đi dạo. Tôi chờ cậu dứt câu, liền đưa hai bàn tay lên vỗ vào nhau liên hồi. Ông cụ cũng mỉm cười, vỗ tay phụ họa.

- Hay, hay quá! Giọng ca của cậu làm tôi nhớ đến giọng ca Út Trà Ôn ngày trước.

Cậu thanh niên bẽn lẽn, ngó tôi từ đầu tới chân.

- Cám ơn chú. Ông cụ thích vọng cổ. Con muốn ca cho ông vui vậy mà...

Tôi tiến đến xe lăn chào ông cụ và nắm chặt tay cậu thanh niên.

- Chú thứ sáu. Cứ gọi chú là chú sáu. Chú muốn hỏi cháu bài ca này ở đâu cháu có vậy? Chú không thấy nó xuất hiện trên đài hoặc trên tivi trong nước và ngoài nước bao giờ?

- Cháu tên Phùng. Làm việc ở đây. Chuyên đẩy các ông cụ bà cụ đi dạo sau giờ cơm. Cháu ca vọng cổ khi nào có ai yêu cầu. Bài ca cháu hát do dượng út của cháu ghi lại. Dượng nói, đó là bài ca "tủ" của người bạn gái vượt biên chung với chú.

Tôi hồi họp.

- Người bạn gái vượt biên? Bây giờ cô ta ở đâu? Dượng cháu ở đâu? Họ đang định cư nơi San Diego này?

- Không. Cô đó cháu không biết ở đâu. Còn Dượng Út đang sinh sống tại Virginia. Năm nay ổng già, về hưu rồi.

Tôi bám theo Phùng, tiếp tục lần ra manh mối.

- Dượng út cháu tên gì? Ông ta cũng biết ca vọng cổ?

- Dượng út tên Hiện. Dượng chỉ là một tay đờn vọng cổ tài tử. Theo ổng kể, tết năm 1976 là cái tết đầu tiên của người Việt nơi xứ Mỹ. Họ buồn nhớ quê hương quá, nên tụ họp với nhau tổ chức đờn ca xướng hát cho vui. Lúc đó, giới nghệ sĩ cải lương không có ai hết. Chỉ có dượng út cháu biết đờn và người bạn gái của dượng biết ca. Thế là họ lên sân khấu diễn bài này. Không ngờ bà con cô bác vỗ tay hoan nghinh quá xá.

Biết không thể tìm hiểu thêm được điều gì khác. Tôi tỏ vẻ ái mộ dượng út Phùng để xin số phone ông ta. Trước khi từ giã, tôi không quên hỏi thăm về tình trạng của anh chị hai tôi. Phùng vui vẻ trả lời, hai ông bà đó được mấy đứa con rước về rồi. Họ khỏe lắm.

II. 

Lúc tôi mới tập thả ngụm khói thuốc đầu tiên trong đời, thì Kim Xuyến cũng vừa bỏ trò chơi nhảy cò cò với đám con nít chung xóm để bắt đầu ru em bằng những bài bản vọng cổ mùi mẩn.

Kim Xuyến có giọng ca trong vắt, như lưỡi dao sắc, cắt nhè nhẹ trái tim người. Nhà Kim Xuyến kế sát nhà tôi, cách nhau bởi một tấm vách lá mong manh, nên trái tim tôi ngập tràn vết cắt. Tuy vậy, cả hai chưa bao giờ tự mở miệng làm quen. Nhưng, từ một thần giao cách cảm nào đó, tôi biết hàng ngày Kim Xuyến âm thầm gửi đến tôi những tình cảm thầm kín qua từng câu vọng cổ bi thương não nuột. Niềm im lặng cứ theo thời gian kéo dài, cho đến một ngày tôi chuẩn bị đi lính, Kim Xuyến mới chận đường, thốt lời thăm hỏi.

- Nghe nói anh sắp đi lính, vui quá, em muốn đến chia tay với anh.

Câu nói đầu tiên mà như dao cắt trong lòng. Tôi ngậm ngùi.

- Đi lính, người ta buồn thấy mồ. Sao cô lại nói vui?

Kim xuyến bụm mặt, cười khúc khích.

- Đi lính vui chớ sao buồn? Được đi đây đi đó, biết chỗ này chỗ nọ. Còn hơn là ngồi một chỗ, như em, chán thấy ông bà ông vải!

- Không sao. Cô muốn vui thì tui vui. Còn bây giờ, cô có nhắn gửi gì không? Sáng sớm, tui sẽ lên xe đi rồi.

Kim Xuyến mân mê tà áo.

- Em biết anh làm thơ nhiều lắm. Thơ anh tặng cho cô này cô nọ ở trong trường, ai cũng đồn um lên. Còn em, chẳng bao giờ thích thơ. Em muốn anh tặng em một bài vọng cổ, kỷ niệm. Anh có dám không?

Kim Xuyến lúng lắng mái tóc dài. Hình như có những sợi tóc thướt tha, theo gió, muốn quấn chặt đời tôi, bắt đầu từ giây phút này.

- Tội chi mà không dám. Nhưng cô ráng chờ. Tôi sẽ đi tìm thầy học nhịp vọng cổ. Sau khi nhuần nhuyễn, sáng tác tặng cô một bài, khỏe re.

Bỗng Kim Xuyến nhào tới, vỗ vào vai tôi nghe cái độp, rồi cắm đầu cắm cổ chạy một hơi.

- Anh nhớ nha! Em chờ bài vọng cổ của anh đó!

III. 

Tháng Tư năm 1975, quân bắc phương tràn xuống, chiếm trọn miền nam. Những thằng lính còn lại, như tôi, bị đối phương lùa vào các trại tù. Đầu tiên, tôi bị tạm giam ở trại Mỹ Phước Tây. Đó là một đồn lính địa phương quân của Việt Nam Cộng Hòa, quân bắc phương trưng dụng biến thành trại tù một cách công khai. Vì là trại tạm giam nên có cả tù quân sự lẫn hình sự, tù nam lẫn tù nữ. Đêm Mỹ Phước Tây buồn. Chúng tôi ngồi tụ vào nhau hút thuốc, ôn lại kỷ niệm và thầm oán trách cuộc đời. Đêm quá nửa khuya, chúng tôi vẫn chưa ngủ, ly nước trà vẫn chuyền tay nhau, những mẩu tâm sự vụn vặt vẫn tiếp nối trong bóng đen tràn ngập ưu sầu. Bỗng có tiếng ca vọng cổ cất lên, vang vang một cách ai oán. Tiếng ca đào của một thiếu nữ đang ở trại tạm giam? Tiếng ca trong vắt, như lưỡi dao sắc, cắt nhè nhẹ trái tim tù nhân, khiến anh em chúng tôi ngẩn ngơ, nhìn nhau, rối bời cả gan ruột. Tiếng ca réo rắt xoáy vào ký ức tôi, làm tôi choáng váng, ôm ngực. Hình ảnh Kim Xuyến hiện lên, quay cuồng trong trí. Sáu câu vọng cổ nói lên sự tích Bá Nha Tử Kỳ. Phải chăng nàng muốn nhắc nhớ đến tấm chân tình năm xưa, đến lời hứa hẹn ngày trước? Phải chăng nàng đang tìm kiếm, trách móc cố nhân đã nhẫn tâm bội ước, bội thề? Chờ cho đến dứt câu số sáu, tôi đưa hai bàn tay lên miệng làm loa, hướng thẳng về phía tiếng hát, la lớn.

- Có phải Kim Xuyến vừa hát không? Có phải không?

Một giọng nói trong trẻo, thân quen, từ phía bên kia vang lên.

- Ừa. Chính em đây. Còn anh, anh là ai vậy?

Tôi mừng quá, la lớn hơn.

- Anh Sáu đây! Em có nhớ không?

- Trời đất! Làm sao quên được. Anh còn nợ em một bài vọng cổ, phải không?

- Tối nay anh sẽ thức suốt đêm để sáng tác sáu câu tặng em. Mai này em sẽ ca bài đó lên cho các anh chị em ở đây nghe nha!

- Anh nói anh nhớ nha! Còn chuyện hát hò là nghề của em. Sẵn sàng.

- Xuyến ơi! Lý do nào em vào trại giam này vậy?

- Thì...giống anh. Đi lính.

- Hả? Đi lính? Đi hồi nào?

- Em mới vào quân trường. Đang học, họ vô "hốt" không còn một móng.

- Bây giờ, em ngủ đi. Ngon giấc nha! Sáng mai xuống nhà bếp lấy nước, anh sẽ qua bên đó gặp em.

- Dạ. Anh cũng ngủ ngon nhá!

Đêm đó, tôi thức trắng để sáng tác sáu câu vọng cổ theo lời hứa với Kim Xuyến. Đêm sau, tất cả trại tù đều không ngủ. Họ đốt thuốc, uống trà...ngồi chờ tiếng hát trong vắt, sắc như dao...xuất hiện. Mảnh trăng lưỡi liềm vừa lên đến ngọn tre, tiếng hát Kim Xuyến chợt trỗi lên, cao vút giữa thinh không.

"...Những thân cây cao là những thân cây chịu nhiều phong ba bão táp, nhưng là những thân cây bám sâu vào đất, bền bỉ trung kiên ngăn gió dữ mưa...cuồng. Trời đất đổi thay vẫn một dạ một lòng. Em muốn đứng ngàn năm nơi góc nhớ, tưởng tiếc từng đồng đội đã ra đi. Nhưng thời gian vẫn là cánh cửa cách ngăn, một ống khóa lạnh lùng và tàn nhẫn. Anh và em hãy cùng phá tung cánh cửa, tháo khóa cách ngăn mới mong nói chuyện xum vầy..."

Bài ca ẩn giấu niềm yêu nước của chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đựợc tiếng hát mượt mà của Kim Tuyến ngân vang khắp trại tù, làm hừng hực ý chí của hàng trăm tù nhân chính trị. Rồi cũng chẳng bao lâu, tới một ngày, chúng tôi bị "xúc" lên các xe nhà binh, mỗi nhóm mỗi ngã, chia nhau đến những trại tù xa xôi khác. Từ đó, tôi không còn gặp Kim Xuyến nữa.

IV. Nhờ số điện thoại của Phùng, tôi liên lạc với Hiện một cách dễ dàng. Hiện hứa sẽ chỉ nơi Kim Xuyến trú ngụ, với điều kiện tôi phải qua Virginia chơi một chuyến. Tôi vội vàng thu xếp công việc, chuẩn bị cho cuộc hành trình đầy thú vị của mình.

Virginia mùa hè, nắng ấm, phố biển như trải tơ vàng. Hiện sống ở Chesapeake, rất gần Virginia Beach. Mùa này, du khách rất đông. Biển luôn náo nhiệt, ồn ào. Nhà Hiện, đúng là nhà của một nghệ sĩ nòi. Xung quanh tường, anh treo đầy các nhạc khí cổ nhạc. Tôi thấy, nào là: đờn nguyệt, đờn nhị, đờn tranh, đờn sến, guitare, violin...Ngoài ra, còn có cả sáo trúc, cây cuỗn (nhạc cụ trong hát bội), tỳ bà...Tôi mãi mê và tò mò táy máy các nhạc khí, suýt chút nữa đụng vào cây đờn bầu đang nằm khép nép một góc trong phòng khách.

- Anh chơi đờn bầu nữa sao? Tuyệt vậy?

Hiện kéo ghế cho tôi ngồi, rồi châm hai tách trà thơm phức.

- Tôi bắt đầu chơi nó vài năm nay. Độc huyền hợp với tuổi già. Nó chậm rãi, sâu lắng và xót xa. Nó dày vò những hoài niệm.

Tôi nôn nao, tiến sâu vào vấn đề. 38 năm rồi, tôi chưa gặp lại Kim Xuyến. Tôi muốn đối diện nàng ngay, bây giờ, để coi nàng mập hay ốm, tròn hay vuông thế nào?

- Trễ rồi. Anh làm ơn cho số phone hoặc địa chỉ Kim Xuyến. Tôi phải thăm cô ta ngay.

Hiện vói tay lên bàn, quơ chai Cordon Bleu xuống, rót đầy hai ly nhỏ.

- Khoan đã. Làm với tôi vài ly cho ấm bụng, rồi chúng ta cùng đi...

Tôi cầm ly rượu, ực một hơi.

- Anh biết nhiều về Kim Xuyến?

Hiện cầm ly rượu lên, cũng ực một hơi.

- Kim Xuyến trốn trại ở Mỹ Phước Tây và vượt biên ngay. Chúng tôi cùng chuyến thuyền và may mắn được tàu Mỹ vớt đem thẳng về nước. Tôi và nàng quen nhau vì duyên văn nghệ: Nàng ca, tôi đờn. Thế là chúng tôi gắn bó nhau từ đấy. Bài ca đầu tiên nàng hát ở hải ngoại là bài ca anh sáng tác. Rồi đi đâu, nàng cũng hát bài đó. Nàng hát trong các buổi lễ hội, trong dịp tết, trong các kỳ ra mắt sách, ở khắp nơi - bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt.

- Nàng chỉ trình diễn có một bài ca tôi sao?

- Còn nhiều bài ca khác nữa chứ! Nhưng bài ca anh được mở đầu. Vì bài ca anh gợi lại lòng yêu nước của người Việt tỵ nạn. Tôi cũng thuộc lòng. Những đứa cháu tôi cũng thuộc lòng. Có nhiều người thuộc lòng.

Tôi vội vàng chồm dậy, đi tới đi lui, nóng lòng nhìn đồng hồ.

- Trễ rồi. Tôi van anh, làm ơn cho gặp cô ta.

Hiện đứng lên một cách nặng nhọc.

- OK. Bây giờ chúng ta đi ra biển.

Tôi trợn mắt, ngạc nhiên.

- Ra biển? Sao lại ra biển?

Một dòng nước mắt tự dưng chảy dài xuống má Hiện. Hiện ôm mặt, buồn bã.

- Thì...thì Kim Xuyến ở biển. Người ta đã đem tro cốt nàng rải ngoài khơi. Nàng...mất rồi.

Tôi chới với. Dường như gian phòng của Hiện đang nghiêng ngửa, quay cuồng. Dường như hai đầu gối tôi không thể điều khiển được nữa. Bất ngờ, tôi chợt khụy xuống, một cách yếu ới.

- Hả? Trời ơi! Kim Xuyến mất rồi sao? Mất hồi nào?

- Cách đây năm năm. Nàng lâm trọng bệnh...

V. 

Tôi và Hiện mướn du thuyền đâm thẳng ra biển. Tôi bảo tài công cứ chạy ra khơi, chạy đến khi nào thành phố Virginia Beach nhỏ lại bằng cái nắm tay. Chiều xuống mịt mùng. Sóng đẩy sóng, trườn lên nhau, vỗ nát mặt biển. Mũi tàu đập sùng sục trong nước. Khí trời như khói như sương bao phủ xung quanh chúng tôi một màn huyền ảo lạ thường. Trong màn huyền ảo mênh mông đó, tôi trườn ra mũi tàu, phình mắt ngó xuống trùng dương thăm thẳm.

Bỗng tiếng ca trong vắt vang lên từ đáy sâu.

Tiếng ca như lưỡi dao sắc cắt nát trái tim người. Tôi vội vàng đưa hai bàn tay lên miệng làm loa, hướng thẳng về phía tiếng ca, la lớn: KIM.....XUYẾN, KIM...XUYẾN...

Cứ thế, tôi tiếp tục la cho đến khi khàn giọng, tắt tiếng. Phía sau, Hiện đứng sững như tượng đá, nước mắt rớt như mưa, nhạt nhòa khuôn mặt...

PHẠM HỒNG ÂN

Ý kiến bạn đọc
30/03/201319:03:30
Khách
Rất hay. Cảm động. Cám ơn tác giả.
30/03/201313:28:00
Khách
Dù là chuyện thật hay truyện sáng tác, cũng rất hay! Xin cám ơn tác giả.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 91,743,646
Tác giả tham dự viết về nước Mỹ từ 2001. "Tôi qua Mỹ năm 90, ở San Diego 2 năm và move qua quận Cam ở cho đến giờ," ông kể. Sau 8 năm lặng lẽ, Vĩnh Hầu góp thêm nhiều bài mới cho viết về nước Mỹ năm thứ mười và nhận giải danh dự. Mới đây, tác giả lại move từ miền Tây sang miền Đông. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Tác giả vượt biển đến Mỹ năm 1983, khi đúng 18 tuổi. Sau 30 năm định cư, bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là một bài viết vui, đáng đọc. Phần minh hoạ được tác giả kèm theo bằng nhiều hình ảnh sống động, nhưng vì lấy từ mạng internet nên không tiện đăng lại.
Tác giả sinh năm 1939, hiện là cư dân Houston, Texas, tham dự Viết Về Nước Mỹ từ 2009 và đã góp nhiều bài viết đặc biệt. Trước 1975, ông là sĩ quan QLVNCH. Bị băt tù binh ngày 16/04/1975 tại mặt trận Phan-rang.Ra tù 1984. Vượt biên 1986.
Tác giả định cư tại Mỹ từ 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, tiểu bang New Jersy. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của Song Lam là một tự sự, “Tháng Ba, Trời Đất Vào Xuân”. Bài thứ hai của bà là lá thư chia sẻ chuyện chồng con, dâu rể với một tác giả Viết Về Nước Mỹ:
Đúng 40 năm trước, 29 tháng Ba 1973, là ngày toàn bộ quân Mỹ rút khỏi Việt Nam theo hiệp định đình chiến Paris. Nhân dịp này, bài viết về nước Mỹ hôm nay là chuyện về một cựu chiến binh Mỹ còn nặng lòng với mảnh đất từng là chiến trường xưa. Tác giả bài viết, trước Tháng Tư 1975, còn là học trò, từng cộng tác với tuần báo Tuổi Ngọc. Mong Tôn-Nữ Thu Dung sẽ tiếp tục viết thêm.
Tác giả tên thật là Nguyễn văn Hoa, sinh năm 1947 tại Quảng Bình, Việt Nam. Tốt nghiệp kỹ sư điện, học cao học và soạn luận án tiến sĩ kỹ sư (1970-75). Từ 1970 đến 1975 dạy đại học kỹ thuật tại Sài gòn. Năm 1975 định cư tại Hoa Kỳ, làm việc cho công ty tiện ích ở North Dakota cho đến năm 2012 thì về hưu. Sau đây là bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông.
Tác giả, tự giới thiệu là “người viết mới toanh” vì chưa từng viết bài gởi cho báo nào, cả ở VN lẫn Mỹ. Sơ lược tiểu sử: Từ 1971, từng Trung Học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho. Qua Mỹ năm 2009. Hiện ngụ tại Milpitas, San Jose, California. Sau nhiều năm nuôi con, hiện ở nhà coi cháu. Mong Đồng Tâm sẽ tiếp tục viết.
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua.
Kông Li là bút hiệu vui vẻ của Phạm Công Lý, tác giả từng nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2011. Là một cựu sĩ quan VNCH, cựu tù, ông cùng gia đình đến Mỹ từ tháng 11/1994 theo diện HO, định cư tại Boston. Công việc từng làm: thông dịch cho Welfare, social worker, phụ giáo, tutor toán ở Middle School của Boston Public Schools.
Tác giả là cư dân San Jose, cơng việc: Income Tax Services. Ông góp nhiều bài viết và đã nhận giải thưởng đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2007, với bài "Từ Vùng Kinh Tế Mới Tới Nước Mỹ". Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Nhạc sĩ Cung Tiến