Mẹ Tôi Và Tôi

16/09/201700:00:00(Xem: 6664)

Mẹ Tôi Và Tôi
Tác giả: Chu Tất Tiến

Bài số 5219-19-31062-vb7091617


Tác giả là một nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xã hội quen biết tại Little Saigon.  Tới Mỹ theo diện Hát Ô Một từ 1990. Suốt 27 năm qua, ông là nhà hoạt động văn hóa cộng đồng, là thầy dạy võ, và không ngừng viết văn viết báo tiếng Việt, tiếng Anh. Với sức viết mạnh mẽ, vừa có thêm tới 7 cuốn sách mới đang ra mắt khắp nơi. Góp sức với Viết Về Nước Mỹ, ông đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ từ những năm đầu, và vẫn tiếp tục góp bài mới. Sau đây, là bài mới viết cho mùa lễ Vu Lan.


***


Mẹ tôi bị ung thư gan, giai đoạn cuối, phải đưa bà vào bệnh viện Hope ở Fountain Valley.

Một chiều tôi đi làm về, vào thăm Mẹ, thì mẹ tôi chỉ tay vào cô y tá người Việt, nói: “Cô này hành me quá, quăng quật lung tung và lúc nào cũng hậm hực như muốn ăn tươi nuốt sống me.” Tôi nổi cơn du đãng, quay qua, chỉ vào mặt cô y tá, quạt cho một trận, và nói: “Cô tưởng mẹ tôi chỉ có một mình nên cô bắt nạt bà già phải không? Nếu cô không làm tròn bổn phận của một y tá, tôi chỉ cần 1 cú điện thoại là đời cô tàn như hoa héo ngay. Biết không?” Cô kia sợ quá, líu ríu nói lời xin lỗi rồi dọt.

Sau đó, thấy không thể để mẹ ở cô đơn trong bệnh viện Mỹ, không có ai săn sóc thường xuyên, tôi gợi ý đưa mẹ về Việt Nam, nơi có hàng chục đứa cháu hầu hạ cụ. Mẹ tôi đồng ý. Ngày ra phi trường, Mẹ tôi vui vẻ và tươi hơn mọi ngày vì nghĩ đến rất nhiều con cháu đang chờ mình về. Khi tiếng loa gọi người đi vào phòng cách ly, Mẹ tôi lụm cụm bước đi, không ngoảnh lại. Tôi đứng sững nhìn theo hình bóng thân yêu ấy và chợt gào lớn lên: “ME ƠI!”  Tiếng gọi của tôi vang trong phi trường âm u vài giây rồi lặng đi trong những giọt nước mắt rơi xuống ướt đẫm áo.

*

Mẹ tôi là người đàn bà “dữ đòn”. Theo sự định nghĩa của các cụ xưa, thì người “dữ đòn” là người hay đánh con mạnh tay, và thường là người Cha, và đôi khi là người Thầy dậy học trong gia đình. Thế nhưng, trong hoàn cảnh của tôi, Mẹ tôi chính là người “dữ đòn”, vì Thầy tôi đã mất sớm, không có dịp đánh lũ con nít chúng tôi nhiều, mặc dầu Thầy tôi rất nghiêm khắc. Hồi ấy, gia đình tôi giầu lắm, có thể nói là giầu nứt đố, đổ vách, vì Thầy Mẹ tôi may mắn có được một mỏ vàng ngay trên ruộng của mình. (Chuyện về ruộng vàng đã được kể trong cuốn tiểu thuyết “Chuyện Tình Lá Me”, nên bây giờ không viết nữa.)

Thầy Me tôi đã từng cưu mang rất nhiều người không nhà, không cửa, biến họ thành “người làm” trong nhà và trả lương hậu hĩ, không một chút nào phân biêt đối xử với những họ hàng khác, do đó, mà đồng loạt, những người làm của nhà tôi đều gọi Bố tôi là “Thầy” và gọi Mẹ tôi là “Me” y như anh chị em chúng tôi.

Khi nạn đói năm Ất Dậu xẩy ra, mỗi buổi sáng, mẹ tôi kêu người nhà nấu mấy nồi cơm khổng lồ để trước cổng nhà, để ai muốn ăn thì cứ việc đến lấy thoải mái. Biết là thế nào cũng đến lượt mình, nên những người đói luôn bình tĩnh chờ đợi để được xúc vào bát của mình mà không dành giật gì cả. Những ai không còn dự tính gì thì cứ nằm ngủ trước cổng nhà tôi, đợi ăn, còn những người khác thì đến ăn, gói ghém cho mình đủ vài ngày, rồi lại lên đường, do đó mà đặc biệt ở làng tôi, ít người chết đói, không giống như những làng khác, người chết nằm la liệt khắp các bụi tre, bờ ruộng.

Đến khi Việt Minh chiếm lĩnh được làng tôi, thì chúng kéo nguyên một đại đội cả trăm người vào nhà tôi ở. Mới đầu thì chúng đặt tên cho mẹ tôi những cái tên khá kêu, như “Mẹ Chiến Sĩ”, “Mẹ Vẻ Vang” để ăn ở thoải mái, giết gà vịt, trâu, bò thả cửa. Rồi khi thấy không moi thêm được nữa, thì chúng trở mặt, đấu tố Thầy Mẹ tôi ngay trong nhà, chửi Thầy Me tôi là “đồ địa chủ khát máu”, rồi tính đưa Thầy Me tôi ra đình làng để cắt cổ. Sợ quá, Thầy Mẹ tôi cùng cả nhà trốn đi, về Hà Nội. Theo lời Mẹ tôi kể, thì khi đi trốn, Thầy tôi và anh chị lớn của tôi thì đi trên đường, hễ nghe tiếng súng “tắc cù” thì lại nằm rạp xuống, rồi bò trườn đi. Hai chị kế tôi thì được một người làm gánh trên đòn gánh, mỗi chị tôi môt bên, còn tôi thì được mẹ tôi địu chặt phía lưng, một tay chống gậy, một tay vòng ra sau ôm đầu tôi, để bảo vệ cái đầu của tôi, vì đã có vài đứa trẻ cũng được mẹ cõng đi mà trúng đạn chết, có đứa bị bay mất đầu mà người mẹ không hay biết gì.

Trở lại việc Mẹ tôi “dữ đòn”. Tôi nhớ lần bị đòn đầu tiên và cũng là lần đau nhất là sau khi chúng tôi di cư vào Nam, Mẹ tôi, với tính tần tảo của bà, đã nhờ Dì tôi là người từng ở Nam từ năm 1945, thuê ngay được một căn nhà có gác gỗ ở Khánh Hội. Nhà ở ngay trên khối sình sát bờ sông Khánh Hội. Từ mặt đường tráng nhựa đi vào nhà tôi là bước ngay lên cây cầu gỗ, có những chân chống bằng mấy thân cây, rồi bước vào nhà cũng là sàn gỗ, ngay góc nhà là nhà vệ sinh. Thật ra đó là cái cầu tiêu có môt cánh cửa khép hờ, bên trong trống trơn, chỉ có một cái lỗ vuông. Người đi vệ sinh chỉ việc ngồi xuống và thả bom, không cần dội nước. Lớp sình này, cứ khi thủy triều lên thì bớt hôi, nhưng khi nước rút, thì hôi “tàn canh, gió lạnh”, nhìn xuống thì thấy đủ hỉ nộ ái ố ở trên đời bầy ra đó, và đàn chuột cống to bằng bắp tay người lớn leo lên leo xuống.

Hồi đó, tôi không biết mẹ tôi tần tảo ra sao mà vẫn nổi lũ chúng tôi bốn đứa. Anh lớn tôi thì làm Sĩ Quan ở Long Xuyên, chị lớn tôi thì làm ở Quan Thuế, có một phòng ở do Sở cấp  ngay tại cái bin-đinh của Sở ở sát bờ sông Saigon. Khu Khánh Hội nơi chúng tôi ở là khu lao động, anh thì làm giầy, người thì bán cá, chú nọ chạy tắc xi, bà kia bán xôi… nên suốt ngày ầm ĩ, đánh nhau phun máu đầu. Ngày nào mà không thấy cãi lộn, đục nhau, không có máu me thì ngày đó chắc là ngày Tết. Con nít ở đây đa số là mất dậy không thể tả, vì thế mà tôi bị oan, cái oan đầu đời làm cho tôi về sau ác cảm với Cảnh sát vô cùng.

Hôm ấy, tôi mới đẽo xong cái súng cao su, tính đi vòng vòng bắn chim đậu trên những tàng cây rậm rạp gần nhà thương Khánh Hội. Đang lớ ngớ nhìn lên cây, chưa bắn một phát nào, thì gặp ngay ông Cảnh sát mặc áo trắng, tiến lại cười vui vẻ:

-Nè, con tính đi bắn chim, phải hôn? Lại đây, lại đây, chú chỉ cho con chỗ có nhiều chim lắm.

Rồi ông thân mật nắm vai tôi kéo đi. Tôi líu ríu theo sau. Bất ngờ, khi vừa tới cửa nhà thương, ông trở mặt, bóp cổ tôi, rồi lôi tôi xềnh xệch vào trong đến phòng bác sĩ đang khám bệnh, và nói oang oang:

-Bác sĩ ơi! Thằng chó đẻ này nó hôm qua bắn bể cửa kính nhà thương của bác sĩ đó!

Ông bác sĩ cũng mặc “bờ lu” trắng nhìn tôi một giây rồi phán:

-Bắt nó quỳ đấy cho tôi.

Thế là ông cảnh sát ấn vai tôi rất mạnh:

-Mày quỳ xuống đây nghe cha nội. Đù má quân láu cá!

Tôi ngơ ngác chẳng biết gì, phải quỳ xuống trước mặt ông bác sĩ và những bệnh nhân khác, nước mắt lặng lẽ chảy tràn trên mặt. Lúc đó, đột nhiên trong tôi sự hận thù loài người, đặc biệt là ông cảnh sát kia lên tới cực điểm, tôi chỉ muốn hút máu, cắn cổ loài người như phim Dracula mà tôi đã nghe kể. Một lúc sau, mẹ tôi nghe hàng xóm báo cáo, tất tả chạy đến, chụp lấy tay tôi, lôi tôi đứng dậy, và nói với ông Lương Y Như Từ Mẫu kia:

-Để tôi về tôi dậy nó!

Rồi bà hầm hầm lôi tôi đi, vừa đi vừa tát tôi dúi dụi. Tôi ú ớ, chẳng thốt lên được lời nào. Trong tôi, tất cả chỉ là căm hận, giận dữ đến nỗi tôi thành câm luôn. Vừa vào đến cửa, mẹ tôi đẩy tôi nằm sấp trên giường, chiếc giường bệnh của nhà thương, mà không hiểu sao, mẹ tôi lại có được thành giường ngủ. Rồi mẹ rút luôn cái cọc giường bằng sắt, cái cọc to bằng ngón tay cái, đầu nhọn, để mắc mùng, cứ thế mà quật tôi nhừ tử. Nhừ tử thật, vì thân thể thằng bé hơn 10 tuổi thì mỏng manh, mà chịu biết bao nhiêu cú quật nặng như thế, thì không chết cũng là may. Sau trận đòn, tôi lịm luôn, chẳng biết trời đất là gì, mê man mấy ngày đêm. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ mãi là óc tôi lúc đó chỉ là những hình kỷ hà học, lúc tròn lúc vuông cứ nhào lộn trong đầu với những ánh sáng le lói đâu đó. Khi tỉnh dậy, tôi nghe ai than thở với ai đó:

-Tội nghiệp! Thằng bé đã bắt chuồn chuồn rồi! Tưởng chết!

Hồi trước, các cụ tin là khi một người sắp chết thì ngón tay co quắp, giật giật giống như bắt chuồn chuồn vậy. Và như thế là tôi đã cải tử hoàn sinh, chắc là ý Chúa chưa muốn cho tôi chết. Sau đó, mẹ tôi hối hận. Bà nấu cháo gà non, trong bụng gà nhét một cục sâm to tổ bố, nấu cho đến khi con gà nhừ nát, thì bà đút cho tôi ăn.

Tôi không giận mẹ tôi, mà chỉ giận loài người độc ác, ăn không nói có. Với mẹ tôi, tôi không có một lời oán trách, vẫn đi theo bà như con chó con, tuy từ đó, vẫn ăn đòn no hơn ăn cơm và ăn đòn mãi cho đến sau khi thi rớt Tú Tài, bị đòn nặng, tôi hận quá,đã leo lên nóc nhà tính nhẩy xuống, tự tử chết đi cho rồi, nhưng rồi lại muốn trả thù đời bằng cách nghiến răng, học thâu đêm suốt sáng để thi đậu Tú Tài. Nhưng rồi vì mẹ tôi cứ giục tôi đi làm để kiếm tiền, tôi bỏ nhà đi bụi đời luôn. Tôi sống đờigiang hồ, đói rách, phải cướp giật ngoài đường để kiếm ổ bánh mì bỏ bụng mãi  gần 2 năm cho đến khi anh họ tôi đưa tôi ra tỉnh, dậy học, từ đó, đời tôi hết lang bang.

Một điều mà tôi phải nói là trong tôi, luôn luôn có một mâu thuẫn, xung đột giữa tình thương Mẹ của tôi và sự hậm hực bởi những lần bị đánh đau đã hình thành trong tôi từ bé, khiến tôi không thích biểu lộ tình cảm thương mẹ bằng lời nói, mà chỉ bằng hành động. Những năm 15, 16 tuổi, tôi vẫn theo mẹ tôi đi công chuyện, nhưng tôi không bao giờ có thể nói lời nhẹ nhàng với bà. Mẹ con đi bên nhau, ăn hàng, ăn chợ nhưng cứ im lìm như thóc. Đến khi trưởng thành, tôi không thích ở gần bà, vì cứ ở gần bà vài ngày là thế nào mẹ con cũng nặng nhẹ với nhau, và tôi lại bỏ đi, nhưng lòng tôi luôn hướng về bà, và lo lắng cho bà từng chuyện nhỏ. Khi bà làm ăn thất bại, phải mua nhà ở Xóm Mới, Gò Vấp, để trồng rau, nuôi lợn, bà gọi tôi về. Tôi chỉ ở với bà có một thời gian là lại lẳng lặng bỏ đi. Hôm ấy, môt buổi sáng lạnh, tôi lặng lẽ gói túi hành trang nhỏ, khẽ khàng đóng cửa và bước đi, vừa đi vừa khóc nức nở. Tôi thương mẹ tôi, thân già môt mình, vất vả sớm hôm, nhưng chân tôi vẫn bước đi, đi mãi…

Thật sự, tôi thương mẹ tôi vô cùng mà không thích biểu lộ. Có lẽ trong đầu tôi, kỷ niệm yêu dấu với bà nặng hơn kỷ niệm bị đòn và tuy còn là con nít, nhưng tôi sớm hiểu hoàn cảnh của mẹ tôi, khi Thầy tôi mất, mẹ tôi mới có hơn 30 tuổi, trắng tay, mà phải tần tảo nuôi sáu đứa con, với xã hội xấu nhiều hơn tốt, mẹ tôi bất đắc dĩ phải biến thành đàn ông, phải thay Thầy tôi làm Bố chúng tôi, vì thế mẹ tôi khô cạn tình cảm là phải.

Tôi vẫn nhớ, mỗi khi mẹ tôi đi buôn chuyến xa, mẹ tôi lại dẫn thằng út là tôi đi theo. Hồi đó, phương tiện chuyên chở không văn minh, đường xá đầy ổ gà, mìn do Việt Minh gài đầy khắp nơi, nên lúc thì mẹ tôi cho tôi đi xe “ca”, loại xe đò bây giờ, ghế gỗ, nhúng yếu nên nẩy người lên như trái banh, lúc khác lại đi tầu thủy, đôi khi đi thuyền “đinh”, loại thuyền buồm sơn đen như thuyền hải tặc. Thuyền có một mui dài, tất cả mọi người đi thuyền đều dồn cả vào trong lòng mui, nơi có treo một ngọn đèn dầu lạc đong đưa theo từng đợt sóng đập vào đáy thuyền. Tuổi trẻ của tôi trôi theo những con đường như thế, cũng bập bềnh, cũng xóc lên xóc xuống như mẹ tôi, người phụ nữ trẻ phải bươn chải kiếm sống cho lũ con.

Trên hết tất cả, tôi nợ mẹ tôi cái hồn thơ văn. Khi còn 5, 6 tuổi, theo mẹ đi buôn chuyến, mẹ tôi luôn bảo tôi đọc truyện cho mẹ nghe. Mẹ tôi mua cả chồng sách Tự Lực Văn Đoàn mang theo và bất cứ lúc nào mẹ tôi không làm việc, không suy nghĩ thì mẹ bảo tôi đọc một vài chương sách. Hết Đoạn Tuyệt, thì Đôi Bạn, rồi Gánh hàng hoa… hầu như mọi tác giả của Tự Lực Văn Đoàn tôi đã đọc hết, và vì thế văn chương đã thấm vào hồn tôi từ bé. Mẹ tôi lại là người thuộc thơ nhiều vô kể. Nếu tôi không đọc truyện, thì mẹ tôi lại ngâm thơ cho tôi nghe, từ Đoạn Trường Tân Thanh, Cung Oán Ngâm Khúc, nhiều nhất là Gia Huấn Ca và những bài thơ vịnh các Thánh như Thánh A Lê Xù (?), Gương Phúc, Gương Tội… Cứ thế mà ý thơ, bài văn mà mẹ tôi trao cho hồi nhỏ đã dầnbiến thành máu thịt của tôi, để đến sau này, mỗi khi tôi chợt nẩy ra một ý nào đó, là tôi viết ngay, viết liên tục, không ngừng nghỉ, bất kể sáng trưa chiều tối, và không bao giờ viết nháp. “Nghĩ sao, viết vậy, người ơi!” Bởi vậy mà trong tôi luôn có mâu thuẫn, thương Mẹ thì thương hơn tất cả các anh chị, nhưng gần mẹ thì chỉ ba, bẩy, hăm mốt ngày là phải rời xa.

Hồi đó, tôi làm việc ở Vũng Tầu với anh tôi đang ngon trớn, thì mẹ tôi đùng đùng dọn nhà lên Vũng Tầu ở với hai anh em tôi. Chiều ấy, khi đi làm về, tôi tá hỏa tam tinh khi thấy ở đâu ra mà quá nhiều đồ đạc lủng củng đầy cửa! Nhìn vào trong, tôi thấy mẹ tôi ngồi đó với bạn của anh tôi, đang nói chuyện. Mẹ tôi nhìn tôi, không giải thích nhiều, chỉ nói vắn tắt: “Me dọn lên đây ở với con, chứ ở Xóm Mới không sống nổi.” Thế là xong. Chấm dứt những ngày độc thân huy hoàng, tối nào cũng vui chơi. Nếu không ra bãi trước, vừa nằm vừa nhậu, thì cũng ở nhà hàng với mấy cô bạn gái, hoặc kéo nhau đi nhẩy đầm, đôi khi hứng chí thì vào bar, cùng với thằng bạnca sĩ, leo lên sân khấu, hát chí chóe vài bài, để khỏi trả tiền cà phê hay rượu. Để đến khuya, say sưa rồi thì ba thằng khoác vai nhau, chân nam đá chân siêu, vừa đi vừa hát nhảm…

Với sự Mẹ tôi lên ở như thế, anh em tôi chẳng biết nói sao, đành chấp nhận ở chung với Mẹ, nhưng chỉ vài tháng là tôi đánh bài chuồn về Saigon. Về đến thủ đô, tôi kiếm nhà và việc làm xong, nhưng vì nhớ Mẹ, nên mỗi cuối tuần lại phóng xe Honda lên Vũng Tầu thăm mẹ, và cũng nhân tiện ghé thăm mấy bạn bè cũ. Chiều Chủ Nhật lại phóng về để thứ Hai đi làm. Cứ thế, cho đến khi Mẹ tôi chán Vũng Tầu, bà lại đi mua nhà và vườn ở Long Khánh và tôi, cách khoảng 2, 3 tuần cũng phải chạy lên thăm bà và xem bà có cần gì thì tôi làm phụ. Điều muốn nói, là mỗi khi lái xe ra khỏi cửa nhà bà, ngoái lại thấy bà đứng cô đơn ở đó, tôi lại khóc. Nước mắt cứ tràn ra ướt cả áo. Tôi hận tôi là không bao giờ tôi có thể nói một câu ngọt ngào với mẹ. Tình cảm của tôi không nói bằng lời. Khi nghe tin mẹ tôi bệnh, các anh chị tôi không ai muốn về thăm, tôi phóng xe lên từng nhà, quát mấy anh chị tôi ầm ĩ, có khi giở máu du đãng năm xưa, văng tục luôn: “Đ.M. Đứa nào không về thăm mẹ, đéo phải anh em tôi.” Rồi tôi gầm lên với mấy đứa cháu: “Từ giờ, đứa nào gọi tao bằng chú, tao đánh chết mẹ!” làm mấy đứa cháu ngơ ngác, không ngờ ông chú lại .. mất dậy đến thế!

Một lần, khi lên thăm bà, nghe Mẹ tôi kể chuyện có ông cậu họ, dám nói hỗn với Mẹ tôi. Tôi hỏi thăm kỹ địa chỉ, đường đi nước bước tới nhà ông cậu cũng ở Long Khánh, rồi cuối tuần sau, tôi nhét vào bụng khẩu Colt 45, phóng Vespa lên tìm nhà ông cậu này. Đến nơi, mấy bà trong nhà thấy bộ mặt hầm hầm của tôi là chạy ra dang tay không cho tôi vào nhà, đồng thời gào ra phía sau cho ông cậu tôi chạy biến. Tôi móc súng ra tính rượt theo ông cậu, nhưng mấy bà già trong nhà ôm lấy tay tôi, nỉ non, can gián. Có người còn chạy đi kêu cả Cha Xứ tới. Không thể làm gì hơn, tôi vẩy súng vào mấy người đó và nói: “Lần này tôi tha cho ông ấy, lần sau ông mà còn hỗn với mẹ tôi, là tôi cho ông về chầu Chúa sớm!” Rồi tôi đùng đùng ra về.

Cứ thế mà tình Mẹ con trôi nổi như sóng.

Sau 1975, tôi đi tù, bà lên Bảo Lộc trồng cà phê. Một hôm, có mấy tên công an tới, gọi mẹ tôi ra hậm họe:

-Nhà bà này có con làm lính ngụy phải không?

Mẹ tôi tỉnh bơ nói:

-Làm gì có? Tôi đẻ ra lính ngụy hồi nào?

Mấy tên kia sừng sộ:

-Chúng tôi nghe báo cáo nhà bà có con làm lính ngụy mà!

Mẹ tôi vẫn thủng thẳng nói:

-Tôi không có mả đẻ ra lính ngụy. Tôi chỉ đẻ ra 3 thằng con đều là Sĩ Quan Cộng Hòa thôi. Mà mấy thằng con tôi đi tù cả rồi. Bây giờ các anh có muốn bắt tôi đi tù với con tôi, thì tôi cám ơn.

Thế là mấy tên cớm kia lủi thủi bỏ đi.

Sau khi tôi ra tù, là chuẩn bị vượt biên liền. Nghe tin, mẹ tôi xuống Saigon gặp tôi. Đưa cho mẹ tôi mấy gói quần áo và lương khô, tôi nhờ mẹ tôi mang theo ra Vũng Tầu, còn vợ chồng tôi và hai đứa con đi tay không. Đến Vũng Tầu, mẹ tôi đi theo cùng nằm ém với tôi hai, ba chỗ, nhưng rồi vụ vượt biên bị bể, chúng tôi bị dầm mưa ngoài biển,ướt như chuột lột, phải trở về Saigon ngay, vì không có chỗ mà ở lại. Cả nhà đứng xớ rớ ở trạm xe đò Vũng Tầu-Saigon, không biết làm sao mà mua vé được vì hàng người rồng rắn đứng trước mà đa số là bộ đội, cán bộ. Mẹ tôi nói gọn: “Để tao.” Rồi mẹ tôi xông lên trước. Một tên bộ đội đứng trong hàng, thấy mẹ tôi không xếp hàng mà lại xông lên trước, thì giơ tay ra gạt:

-Cái bà này! Đi ra sau!

Mẹ tôi trừng mắt nhìn nó:

-Mày có câm cái mồm mày đi không! Mày dám nói với mẹ mày như thế hả?

Tên bộ đội ngớ người, tưởng đây là .. mẹ cán bộ, nên im re. Mẹ tôi tiến thẳng tới quầy, nơi đó, có môt tên cán bộ đeo túi xách đứng sẵn. Thấy Mẹ tôi sấn tới, tên này quát lên:

-Bà già! Hàng lối đâu mà lên đây?

Đưa tay chỉ thẳng vào mặt hắn, mẹ tôi quát còn to hơn nó:

-Mày im cái mồm mày đi! Biết thân biết phận thì tránh ra cho bà. Liệu mà giữ cái hồn mày đấy! Nghe chửa!

Trước tiếng sư tử hống của bà, tên cán bộ sững sờ, không nói thêm môt lời nào nữa, đứng xích ra môt bên cho mẹ tôi lên đưa tiền mua vé.Cô gái ngồi sau quầy vé, hấp tấp xé luôn 5 cái vé cho bà. Thế là chúng tôi về Saigon bình an, không ai hỏi giấy, chỉ có tay lơ xe, thấy vợ chồng chúng tôi ướt nhèm, thì cười:

-Đi vượt biên không lọt hả?

Tôi chỉ nhích miệng, không trả lời.

Mẹ tôi là thế! Bà thương con cháu, nhưng cũng như tôi: Không bao giờ nói lời dịu dàng với nhau.

Cho đến khi bà sang Mỹ năm 1984, còn tôi qua diện H.O.1, năm 1990, tôi cũng không thể ở với bà quá 2 tháng. Ngay từ ngày đầu tiên, tôi đã dự định trả hiếu với bà bằng cách hy sinh lời mời hấp dẫn của anh tôi ở miền Bắc California, cho chúng tôi chỗ ở và một cửa hàng ăn đang cần người quản lý, mà thuyết phục vợ con cố gắng ở chung với Mẹ, bất chấp sự xung đột ngấm ngầm giữa hai mẹ con đã có từ lâu. Nhưng rồi, như phần số đã định. Chỉ 2 tháng sau là bắt đầu có sự va chạm, nên bà tự đi tìm phòng để “share”, với lý do là để gần nhà thờ. Rồi 4 năm sau, một hôm bà gọi điện cho tôi: “Me thấy đau bụng quá, con sang xem!” Tôi vội lái xe chạy qua, và chở bà đi khám bác sĩ. Kết quả là mẹ tôi bị ung thư gan, giai đoạn cuối. Sau một thời gian nằm bệnh viện Hope ở Fountain Valley, Mẹ về Việt Nam  để bà chị chăm sóc.
 

*

Và rồi một ngày, đang làm việc, chợt linh tính báo có điều gì bất ổn, tôi bồn chồn đứng ngồi không yên, và bất chấp đang giờ làm, tôi gọi ngay cho bà chị ở Việt Nam và nói ngay: “Me mất rồi, hả chị?” Và đúng như thế, hồn mẹ tôi đã bay từ Việt Nam qua Mỹ gõ nhẹ vào tim tôi, chỉ vài phút trước lúc tôi gọi về nhà, hỏi thăm.

Đêm ấy, đang ngủ, đột nhiên có tiếng nói bên tai: “ME VỀ!”, làm tôi vùng dậy, cả người lạnh toát đi như bị dội nước đá. Hình như trong bóng tối, Mẹ tôi đứng đó, nhìn tôi, không nói… cũng như xưa, lâu lắm rồi Mẹ con không trao đổi lời gì âu yếm với nhau.

Mùa Vu Lan 2017

Chu Tất Tiến


Ý kiến bạn đọc
18/09/201704:38:44
Khách
Nội dung và lời văn bài viết rất hay. Tôi cũng là người đã từng có mối liên hệ xung khắc nặng nề với một trong hai đấng sinh thành- ba tôi- nên rất cảm thông với tác giả. Khi qua được Hoa kỳ, hàng ngày tuy không còn phải sống chung dưới mái nhà nữa- vì tôi ở nội trú trong trường và khi học xong, thì đi làm ở tiểu bang khác, tuy nhiên, mỗi khi tôi có dịp về thăm nhà, là hầu như thể nào cũng vẫn có xích mích giữa cha con.

Sau khi ba tôi qua đời, khi hồi tưởng về quá khứ, tôi tự trách mình cũng có một phần lỗi, nên vào những ngày Father's Day và Tết, tôi đều đi viếng mộ phần của ba tôi.

Xét cho cùng, thì cũng do ba tôi có tính xét nét, nóng tính, áp chế mà sau này khi sống riêng, tôi đã học xong được đại học, luôn giữ cho chỗ ở được ngăn nắp, và lo cho cho công việc ở sở được chu toàn đúng hạn kỳ...
17/09/201722:53:32
Khách
Câu chuyên này lẽ ra Ông phải kể từ lâu cho độc giả đọc chứ.Mến
16/09/201719:51:49
Khách
Thua Ong
Toi muốn mua sách của Ong qua bưu diện
Xin Chỉ dẩn
Cám Ơn ong
HLan
16/09/201715:20:29
Khách
Đọc xong bài viết của ông mà nước mắt đầm đìa.Cảm ơn và cảm ơn.TH
16/09/201712:39:34
Khách
Bài hay. Qua giọng văn mạnh bạo mà chân tình, độc giả có thể hinh dung ra bà cụ nóng tánh nhưng nhân đức, và thấy tác giả cũng giống tánh bà cụ nhiều. Cương phải đi với Nhu theo luật âm dương. Hai người cùng "cương " cả, nên hay đụng dộ, khó ở chung nhau, nhưng xa nhau lại nhớ. Tôi và mẹ tôi cũng vậy, nhưng lớn tuổi thì tôi nhịn không cãi mẹ, và mẹ cũng vậy.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 810,286,850
Tác giả là nhà báo quen biết trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông dự Viết Về Nước Mỹ từ 2006, đã nhận Giải Danh Dự, thêm Giải Á Khôi, Vinh Danh Tác Giả VVNM 2016, và chính thức nhận giải Chung Kết Tác Giả Tác Phẩm 2018. Sau đây thêm một bài viết mới.
Tác giả là một kỹ sư hồi hưu, đã sống 25 năm bên Pháp, hiện là cư dân Irvine, từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2013. Đây là bài viết mới của Ông.
Tôi đi mình lên trong chuyến xe lửa từ Paris sang Thụy Sĩ với tâm trạng nôn nao và thoáng lo âu ngần ngại, mặc dù đây không phải là lần đầu thân gái dặm trường xuyên quốc gia như thế này
Nguyệt Mị là bút hiệu lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ, nhưng trong tháng trước tác giả đã có bài "Nước Mỹ là nhà của Mị" ký tên thật là Quynh Gibney.
Tác giả: Nguyễn Thị Thêm Bài số 5834-20-31618-vb5111419 Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2015. Bà sinh năm 1948 tại Biên Hòa, cựu học sinh Ngô Quyền. Trước 1975, dạy học. Qua Mỹ năm 1991 theo diện HO, hiện là cư dân Nam Ca Li. Bà kể, "Chồng tôi là lính VNCH. Hai con tôi nay là lính của quân đội Hoa Kỳ. Tôi hết làm vợ lính lại làm mẹ lính." Sau đây là bài viết mới của tác giả.
Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ơng định cư tại Mỹ từ 1990, hiện làm việc theo một hợp đồng dân sự với quân đội Mỹ, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi.
Tác giả tên thật Trần Năng Khiếu. Trước 1975 là Công Chức Bộ Ngoại Giao VNCH. Đến Mỹ năm 1994 theo diện HO. Đã đi làm cho đến năm 2012. Hiện là công dân hưu trí tại Westminster.
Tháng Năm 2018, tại Việt Báo Gallery, có buổi ra mắt sách Anh ngữ "Finding My Voice A Journey of Hope" của Crystal H. Vo tức Võ Như Ý, từng dự Viết Về Nước Mỹ từ 2009.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Bà sinh năm 1951 tại miền Bắc VN, di cư vào Nam 1954, là thư ký hành chánh sở Mỹ Defense Attaché Office (DAO) cho tới ngày 29 tháng Tư 1975.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Bà sinh năm 1951 tại miền Bắc VN, di cư vào Nam 1954, là thư ký hành chánh sở Mỹ Defense Attaché Office (DAO) cho tới ngày 29 tháng Tư 1975.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.