Khách Sạn 22

08/02/201400:00:00(Xem: 18244)
Tác giả: Khôi An
Bài số 4135-14-29545vb7020814


Bài trích từ báo xuân Việt Báo Tết Giáp Ngọ 2014.

Khôi An, giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013, từng là một thuyền nhân. Từ tuổihọc trò, cô cùng người em gái phải rời bố mẹ, vượt biển năm 1983. Mười năm sau,1993, cô đã là một kỹ sư đại diện Intel đi “bàn giao kỹ thuật” cho các kỹ sư bảnxứ tại phân xưởng Intel ở Penang, Mã Lai.

Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, Khôi An hiện là tác giả có lượng người đọc lớnnhất trên Việt Báo Online. Bài "Tình Nghĩa, Nghĩa Tình", giải danh dư2009, trên 407 ngàn; Bài “Việc Làm Ơi, Mi Đi Đâu”, giải Vinh Danh Tác Phẩm2010, trên 325,000. Và mới nhất, bài “Những Đoạn Đường Cho Nhau”, một tự truyệnvề tình bạn giữa “đám con nít của Sài gòn thất thủ năm xưa”, giải Chung Kết2013, chỉ mới sáu tháng, đã đạt gần 280 ngàn lượt người đọc.

resized-vvnm2013-3
Tác giả Khôi An.

Truyện này được viết từ những xúc động khi đọc hai bản tin của ký giả MarkEmmons đăng trên báo San Jose Mercury News vào cuối tháng Mười và đầu tháng MườiMột, 2013. Tên nhân vật và chi tiết trong truyện là hư cấu. Người viết trân trọngcám ơn ông Mark Emmons và San Jose Mercury News. Hình từ trang Web của San JoseMercury News: Những người không nhà đang lên “Khách Sạn 22.”

* * *

image001
Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩalà chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chốngtay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra.Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíulại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.

Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xebus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọingười chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếngngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa,gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại.Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.

Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹthì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ,vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thởphào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…

Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisanhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đườngEl Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơinó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đidọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào cótreo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biếtvì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từbến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà máiđỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống nhưcây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìnchung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giốngnhư ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớncon xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nóiđược tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hếtsức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ củaBa nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đónó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.

Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanfordthì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điềuước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ langthang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêmtrời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấmnylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu.Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tựnhiên lạnh ngắt.

Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.

Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.

Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếmchỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe,nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mangnhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túixách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấyphần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai bacon nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đườngnày cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.

Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng làtuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ởphía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọctheo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên ElCamino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trướckhi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.

Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đôla. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảychục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọingười gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắpmất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếmhoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốnbảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đốivới cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

*

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó làngười homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với nhữngngười chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là nhữngngười “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.

Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễthương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp cònMẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờthỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loángánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửithấy mùi thịt nướng.

Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng,khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hìnhcó nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vônhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, côgiáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấyBa khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.

Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ratrong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trongmột giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ,thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực,khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việclàm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. CôCindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổnói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.

Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờngphải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi họcvề nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếngnào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mìnhkhông có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.

Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở mộthàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:

- Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.

Ba nó nài nỉ:

- Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!

Cô ta vẫn lắc đầu:

- Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Màkhông có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?

Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tìnhcho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắtnhau đi.

Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter(nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách cácshelter trong quận Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trongdanh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coivậy mà không phải vậy…

Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũngđầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có nhữngshelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelterdành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tạisao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không cóchỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:

- Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thôngminh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chươngtrình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.

Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặcbiệt.

Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắtnhư muốn khóc.

Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về nhữngshelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ởtrong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗishelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông.Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mớiđược.

Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe busmới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗnào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai chacon thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguyhiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó,bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thứcgiấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.

*

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơnnhiều.

Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tớitrạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khikhông ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đilàm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chămchú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm,xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồigật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từtừ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.

Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bếnchót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.

Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vìKhách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học,chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư việnđóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ chongười nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.

Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xelàm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không baogiờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn àotrên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:

- Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có véthì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.

Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước.Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất.Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụhuynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là congiỏi vậy!”

Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạchsẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồngcó hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặtquần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậuxe đằng sau Goodwill.

Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặpvợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giốngnhư nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuốnggài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệuđó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họcho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồnbuồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài,họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnhthoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giớithiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốntìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt,làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.

*

Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhàhàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ củamùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớrằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lòcháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…

…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồiđi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ănnóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa.Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếphàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.

Bỗng tim nó thót lại!

Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứngtrong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quayngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cáigì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắclà bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấygiận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đãlàm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…

- Lisa, con ăn đi!

Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàngsang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy,và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật làvui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cấtcông mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếphàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?

Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọingày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:

- Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biếtnhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.

- Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.

Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạcnhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồiđây.

Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ôngbà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộmvà mỉm cười với thằng bé Danny.

Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bànhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:

- Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose MercuryNews.

Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng haytái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn nhữngngười phía bên kia bàn.

Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịudàng:

- Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của mộtcơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trườngĐại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từđó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi cóthể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng….

*

Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho cácgia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớpdạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.

Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ.Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họgiúp đỡ cha con nó hay không.

Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửacho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điềukỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiềuở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.

Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn22.

Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấyđược.

Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi An

Ý kiến bạn đọc
06/03/201422:59:16
Khách
Cám ơn tác giả Khôi An, truyện viết thật cảm động và kết thúc có hậu thật là hay!
28/02/201408:00:00
Khách
Cám ơn mọi người đã ghé đọc, để lại lời khuyến khích, và quan tâm chia sẻ.

Trả lời bạn đọc Hiền: theo Khôi An biết, hầu hết những người không nhà đều lãnh trợ cấp xã hội.
Họ có thể dùng hộp thư hoặc mỗi tháng tới chi nhánh sở xã hội nhận chi phiếu từ social worker của họ.

Với bạn Quyên Hồ: Người không nhà là một trong những vấn nạn xã hội khó giải quyết. Tấm lòng của Quyên thật bao la nhưng đề nghị cho người không nhà mượn phòng là một điều rất phức tạp, nhất là về mặt bảo đảm an toàn. Có lẽ vì thế mà theo Khôi An biết không nơi nào trên thế giới có chương trình này. Nhưng khi mình có tấm lòng thì mình có thể giúp được cách này hay cách khác, phải không Quyên? Thí dụ như tình nguyện ở các shelter và chia sẻ với người không nhà tại đó.
19/02/201408:00:00
Khách
Đọc bài của chị làm em xúc động rất nhiều...Nước Mỹ dù là giàu có và phồn thịnh nhất thì vẫn còn đó những người homeless... Nhiều lúc chạy ngang những gầm cầu thấy những người homeless, em thật sự muốn mời họ về nhà mình tá túc qua đêm, nhưng lại ngại vì không biết họ như thế nào, có an toàn không. T̀hiết nghĩ sao Chính Phủ không đưa ra những chương trình như cho người dân tình nguyện cho mượn phòng để những người vô gia cư có thể tá túc, còn CP cho những cảnh sát điều tra lý lịch của những người vô gia cư để bảo đảm an toàn cho người dân tình nguyện... nếu có chương trình như thế em sẽ là tình nguyện viên đầu tiên cho những người vô gia cư mượn phòng.
19/02/201408:00:00
Khách
Xin hỏi thăm tác giả hoăc bất cứ ai biết và có thể trả lời. Tình trạng của 2 bố con là homeless thi không có địa chỉ thì làm sao xin đi học , xin đươc foodstamp hay medicare/ medicaid? Khi gửi giấy tờ , nhà trường hay bộ XH sẽ gửi về đâu?
Bài viết rất hay, và cảm động. Tin rằng cháu bé sau này sẽ thành công ví cháu đã được tôi luyện với khó khăn vất vả mà vẫn học giỏi.
10/02/201408:00:00
Khách
Chào cháu Khôi An,
Bài viết cháu rất hay và cảm động.

Sáu
09/02/201408:00:00
Khách
Trụyên nhẹ nhàng và cảm động.
Ở Mỹ mà cũng có người nghèo và khổ thế ư?
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 808,376,477
Tác giả đã góp nhiều bài viết đặc biệt và đã được trao tặng giải thưởng Việt Về Nước Mỹ. Ông sinh năm 1951, du học Nhật trước 1975. Đến Mỹ năm 1981. Hiện là cư dân Irvine, Nam California. Công việc: Kỹ Sư Điện tại một hãng trong cùng thành phố. Đây là bài viết mới nhất
Bà cho biết tên thật Jeanne Bùi, sinh năm 1945. Từ trước 1975, dạy học ở Saigon. Sang Pháp từ 1982, đi học lại rồi làm việc cho Mairie de Paris (Tòa Thị Chính), hiện đã nghỉ hưu.
Tác giả là một nhà giáo tại Việt Nam. Sang Mỹ, bà có 10 năm làm việc trong ngành du lịch, hiện là cư dân Little Saigon. Với sức viết mạnh mẽ, Phùng Annie Kim đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2016.
Tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2013. Năm 2019, Tác giả nhận thêm giải Chung Kết Vinh Danh Tác Giả Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ hay còn gọi là giải Hoa Hậu. Tốt nghiệp Y Khoa Huế, thời chiến tranh Bác sĩ Vĩnh Chánh đã là Y Sĩ Trưởng binh chủng Nhảy Dù.
Tác giả là cư dân Huntington Beach. Những Bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên của cô là “Chuyện Vui Sầu” ký bút hiệu Khánh Doãn đã được phổ biến từ tháng Tư 2011.
Nguyễn Cao Thăng là tên thật của tác giả, 52 tuổi, dân gốc Kinh 5 Rạch Giá, một cựu thuyền nhân, hiện là kỹ sư cơ khí của hãng máy bay Beechcraft tại Wichita, Kansas.
Tác giả hiện sống ở thành phố Victorville California, đã từng tham gia VVNM năm 2018
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2012, với những bài viết linh hoạt về đời sống tại Mỹ kèm theo hình ảnh hoặc tài liệu do ông thực hiện hoặc sưu tập.
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2015. Bà sinh năm 1948 tại Biên Hòa, cựu học sinh Ngô Quyền.
Tác giả dự Viết Về Nước Mỹ từ 2004. Võ Phú sinh năm 1978 tại Nha Trang-Việt Nam; định cư tại Virginia-Mỹ, 1994. Tốt nghiệp cử nhân Hóa, Virginia Commonwealth University.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.