Hôm nay,  

Sự Chia Rẽ Chỉ Là Giai Đoạn

10/24/202500:00:00(View: 2277)

phuoc-an-thy lãnh giải về Huế Tết Mậu Thân VVNM tại lễ trao giải VVNM 2018
TG Phước An Thy nhận giải Đặc Biệt về Huế Mậu Thân trong lễ  trao giải VVNM 2018
 
Tôi vẫn tin rằng, sự chia rẽ trong một cộng đồng, dù đau đớn và kéo dài đến đâu, cũng chỉ là một giai đoạn mang tính tạm thời trong tiến trình phát triển của xã hội. Bởi lẽ, thời gian luôn là yếu tố có khả năng gạn lọc những gì tiêu cực, cực đoan và phi lý. Mọi thứ sẽ dần lắng xuống, những mâu thuẫn, hiểu lầm, khác biệt sẽ được sàng lọc như lớp phù sa được nước lũ cuốn đi, để lại những giá trị chung làm nền tảng kết nối con người với nhau.
 
Qua thời gian, con người sẽ dần nhận ra những giá trị chung, những điểm tương đồng đủ lớn để có thể ngồi lại, đối thoại và nối lại những mối quan hệ đã bị tổn thương hoặc rạn nứt. Lịch sử nhân loại đã không ít lần chứng minh: những chia rẽ, xung đột, dù tưởng như không có lối thoát, rồi cũng dần lùi vào quá khứ khi con người học được cách đặt lợi ích chung lên trên cái tôi cá nhân, học cách lắng nghe nhau nhiều hơn là phán xét.
 
Tuy nhiên, nói thì dễ, sống trong hoàn cảnh chia rẽ mới thật sự cảm nhận hết những hệ lụy mà nó mang lại. Sự xung đột trong lòng một cộng đồng không chỉ làm suy yếu sức mạnh tập thể, mà còn để lại những vết thương sâu sắc trong tâm hồn mỗi con người. Cảm giác bị mắc kẹt giữa hai luồng tư tưởng, hai phía đối lập khiến cho cá nhân cảm thấy mình bị kéo giãn, bị xé đôi, không chỉ về mặt lý trí mà còn về tình cảm và bản sắc. Đó là một trải nghiệm cay đắng, khi người ta cảm giác mất phương hướng, mất gốc rễ, không còn biết đâu là điểm tựa tinh thần, đâu là nơi mình thuộc về.
 
Chính trong hoàn cảnh ấy, niềm tin và sự đoàn kết trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nó không chỉ là hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn, mà còn là động lực để mỗi người tự điều chỉnh bản thân, vượt qua định kiến, và góp phần hàn gắn lại những gì tưởng chừng như không thể hàn gắn được.
 
Do đó, trong mọi hoàn cảnh, thay vì buông xuôi hay khoét sâu vào sự chia rẽ, mỗi cá nhân trong cộng đồng cần nuôi dưỡng tinh thần đối thoại, sự thấu cảm và lòng khoan dung. Chỉ khi con người nhìn nhận sự khác biệt như một phần tất yếu của đời sống và cùng hướng về những giá trị chung, thì khi đó, chia rẽ mới thật sự chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi trên con đường đi đến sự gắn kết bền vững.
 
Rời xa quê hương, chúng ta mang theo không chỉ vài chiếc va-li, mà cả một nhà tù trí nhớ. Ký ức trở thành vừa ngọt ngào vừa giam hãm. Quê hương còn lại trong tim như một vết thương không lành, vừa đau đớn vừa dịu dàng tỏa hương. Bất kỳ nỗi nhớ nào cũng mang hình hài của một vùng đất, một góc phố, hay một con đường thân quen. Người ta thường nói nhớ một thời, nhưng thật ra là đang nhớ một nơi chốn, nơi từng in dấu những khoảnh khắc không thể quên.
 
Nhớ tuổi thơ không chỉ là hoài niệm về những tháng ngày vô lo, mà là nhớ con kênh nhỏ lặng lẽ trôi qua sau vườn, nhớ tiếng ve sầu râm ran giữa trưa hè oi ả, nhớ mùi đất ẩm sau cơn mưa đầu mùa, nhớ cánh đồng lúa chín vàng rộ rực dưới nắng. Từng hình ảnh ấy hiện lên rõ nét trong tâm trí, như thể chỉ cần nhắm mắt lại là có thể chạm tay vào quá khứ.
 
Nhớ thanh xuân không đơn thuần là nhớ những năm tháng tuổi trẻ đã qua, mà là nhớ quán cà phê nằm khuất ở góc phố, nơi từng in bóng những buổi chiều mơ mộng. Là nhớ tiếng đàn vang vọng từ căn gác nhỏ, nhẹ nhàng mà day dứt, như lời thủ thỉ của ký ức. Là nhớ ánh đèn vàng hắt ra từ khung cửa sổ quen, nơi ta từng ngồi nhìn mưa rơi và mơ về một tương lai xa xôi.
 
Nỗi nhớ, suy cho cùng, luôn gắn chặt với không gian, những nơi từng là chứng nhân cho cảm xúc, cho yêu thương, cho những điều ta từng có rồi đã mất. Và đôi khi, chỉ cần đi ngang qua một con đường cũ, nghe lại một bản nhạc xưa, hay ngửi thấy mùi hương năm nào, tất cả ký ức ấy lại ùa về, đầy ắp và nguyên vẹn như chưa từng rời xa.
 
Thế nhưng, người lưu vong nào rồi cũng đến lúc nhận ra: người ta không thể sống hoài bằng trí nhớ, sống mãi bằng quá khứ và không thể xây dựng trên sự hoài niệm. Tôi hiểu điều đó, nhưng mỗi chân trời mới, nhìn cho kỹ, vẫn bắt đầu từ một chân trời ký ức. Henrik Ibsen từng nói: "Người ta chỉ có vĩnh viễn những gì đã mất đi vĩnh viễn." Có lẽ đúng thật.
Quá khứ cho ta gốc rễ, nhưng hiện tại mới cho ta sự sống. Có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ thành cư dân chính gốc ở xứ sở này. Nhưng điều đó không hẳn là bi kịch, nó có thể là một cơ hội: để vừa giữ được tiếng mẹ đẻ, vừa học một ngôn ngữ mới; để vừa thuộc về, vừa khác biệt; để biến mất mát thành điều hữu ích.
 
Ngày đầu đặt chân đến Mỹ, không có ánh sáng lung linh của “miền đất hứa” như người ta vẫn kể. Chỉ thấy một khoảng trống lạ lùng, như thể bước vào một giấc mơ chưa kịp gọi tên. Xa lộ mênh mông, những dòng xe cuồn cuộn lao đi lạnh lùng, đèn chớp nháy không phải của hội hè mà như những con mắt vô tri lướt qua nhau. Nhà cửa xếp hàng ngay ngắn, vuông vức, khô khan, như trò chơi lắp ghép của một bàn tay vô hình, thiếu hơi thở người.
Giữa cái mênh mông ấy, lòng người bỗng co lại, thấy rõ sự cô đơn nhoi nhói. Không còn tiếng rao quen thuộc, không còn mùi khói bếp chiều, không còn bóng dáng của một ngõ nhỏ nơi quê nhà. Mọi thứ vừa rộng rãi quá mức, vừa chật chội đến ngột ngạt trong tâm hồn.
 
Người ta bảo: “Ở đây anh được tự do.” Nhưng tự do này không có ai cầm tay, không có ai chỉ lối. Nó đứng đó, như con dao hai lưỡi lạnh lùng, đòi ta phải tự gánh, phải tự lo liệu tất cả, từ cơm áo đến tương lai, từ chỗ đứng xã hội đến niềm tin cá nhân. Thành công, chẳng có ai để chia vui. Thất bại, cũng không còn ai để đổ thừa.
 
Tự do không phải là thứ ai đó có thể ban phát hay cho không. Nó luôn phải được đánh đổi bằng một cái giá nào đó và đôi khi, cái giá ấy chính là kiếp sống lưu vong, là sự rời xa quê hương, cội nguồn, và cả những điều từng quen thuộc. Thế nhưng, nếu suy ngẫm sâu xa, có lẽ chính sự lưu vong ấy lại là cơ hội để con người học cách tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Khi không còn được bao bọc bởi cộng đồng, bởi hệ thống quen thuộc, mỗi lựa chọn, mỗi hành động đều mang một sức nặng riêng, bởi chúng ta không còn ai để đổ lỗi ngoài chính mình.
 
Trong thân phận tha hương ấy, ta buộc phải sống và nếu cần, cũng sẵn sàng chết với cái tên mới mà mình đã tự chọn lấy. Cái tên ấy không chỉ là danh xưng, mà còn là biểu tượng cho một con người đã tái sinh trong tự do, trong ý thức và trong trách nhiệm. Tự do, vì thế, không chỉ là quyền được sống theo ý mình, mà còn là nghĩa vụ phải gánh vác mọi hậu quả của chính sự lựa chọn ấy, dù trong cô đơn, mất mát hay hy vọng.
 
Ở đất Mỹ, ai trong chúng ta cũng buộc phải bắt đầu lại từ đầu: học một nghề mới, tập làm quen với nếp sống mới. Những bước đi đầu tiên chập chững, lạc lõng, như đứa trẻ tập đi trên con đường quá rộng, quá lạ lẫm. Mưu sinh nơi xứ sở phức tạp này chưa bao giờ là dễ dàng. Có khi đó là những ngày nhục nhằn, cúi đầu làm những việc không tên, lặng lẽ gánh lấy để rồi chỉ mong có thể đứng vững giữa đất khách quê người.
 
Thế nhưng, cũng thật lạ kỳ, người Việt lại sớm tìm thấy cách thích nghi. Chúng ta học được cách biến cái khó thành chỗ dựa, biến cái bất lợi thành thế sống còn. Đó là một nỗ lực phi thường đối với những con người vốn quen đời sống tiểu thương, công nhân, nông dân… Ấy vậy mà trong gian khổ, sự bền bỉ và ý chí sinh tồn vẫn lấp lánh, đưa bao người dựng được mái ấm nơi phương trời xa.
 
Trên đất mới, chúng ta quây quần lại, gọi đó là cộng đồng. Nhưng càng nhìn kỹ, càng thấy như một phiên bản thu nhỏ của quê hương đã mất. Ai từng là sĩ quan lại muốn giữ quyền chỉ huy. Ai từng làm báo lại lập báo. Ai từng dạy học lại mở lớp... Trật tự cũ, lạ thay được nối dài sang đời sống mới, được dựng lại ở một mảnh đất xa lạ. Người thì chống Cộng đến cùng, người thì muốn hòa giải và người thì chỉ lo cơm áo, tìm một lối đi yên ổn, lo cho gia đình, cho tương lai của con cái.
 
 
Tôi thiết nghĩ sau chặng đường dài hơn nửa thế kỷ qua định cư nơi hải ngoại, điều còn lại chỉ là khát vọng sống an lành, nuôi dạy con cái nên người, và giữ cho cộng đồng không tan biến. Cầu mong cộng đồng người Việt hải ngoại sáng suốt, không phân biệt quá khứ, xuất xứ Bắc Trung Nam, sắc tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, thời điểm xuất ngoại, dũng cảm thể hiện lòng nhân ái, để có sức mạnh tập trung vào công việc xây dựng một cộng đồng ngày càng lớn mạnh.
 
Chúng ta đã đi xa đến thế này, đã trả giá bằng bao năm tháng lưu vong, thì không thể để những ranh giới nhỏ bé làm tan nát chúng ta thêm lần nữa. Tôi tin, một ngày nào đó, cộng đồng sẽ nhận ra: điều duy nhất còn lại, đủ để ta nắm tay nhau là sự thật rất giản dị, chúng ta đều là người Việt, chung một tiếng nói, đều cùng đi tìm một đời sống tử tế nơi xứ người văn minh, cùng mang trong tim bóng dáng một quê hương, dù xa hay gần.
  
Phước An Thy

Reader's Comment
11/12/202512:08:57
Guest
Trích: "Chúng ta đã đi xa đến thế này, đã trả giá bằng bao năm tháng lưu vong, thì không thể để những ranh giới nhỏ bé làm tan nát chúng ta thêm lần nữa."
Tại sao chúng ta phải bỏ nước để đi xa đến thế này? Có phải vì họa Cộng Sản không? Vậy mà giờ có một số người Việt lại bám theo cái đám Dân Chửi ủng hộ tên Cộng Sản Zohran Mamdani ở New York đó. Đây không phải là "những ranh giới nhỏ bé" đâu.
Send comment
Off
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Your Name
Your email address
)
Add a posting
Total View: 499,382
Mùa đông của nước Mỹ bắt đầu từ khi nào? Vào tháng mấy? Theo trang Fanpage của nước Mỹ, thì “Mùa đông ở nước Mỹ bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến hết tháng Hai năm sau. Một số thành phố như New York, Washington.D.C, Boston... tuyết rơi nhiều, lạnh giá...”, nhưng theo nhiều người Việt sống lâu năm ở Mỹ, nhất là những người cao niên, không ưa cái lạnh của mùa đông thì cứ sau lễ Thanksgiving và sau những ngày mua sắm Black Friday, thì đã nghe cái lạnh của mùa đông tràn về. Thậm chí có nhiều nơi đã bắt đầu cái rét... tái tê, và trong nhà đã cần phải bật máy sưởi, người thì cần phải mặc thêm nhiều lớp áo ấm, khăn choàng cổ, cùng với mũ nón, trùm kín đầu! Và cứ thế cái lạnh kéo theo lê thê qua mãi đến, tháng 3, thậm chí đến đầu tháng 4 mới chấm dứt.
Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Theo học bậc tiểu học và trung học tại Đà Nẵng, đại học tại Sài Gòn. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, bang Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Đây là lần đầu tiên tác giả tham dự chương trình VVNM. Bài viết ghi lại một truyện ngắn đã đăng trên tạp chí Văn từ nhiều năm trước vẫn in đậm trong ký ức của ông.
Tôi đến thành phố Grapevine thuộc hạt Tarrant ở Bắc Texas vào ngày 24 tháng 11, ngày của sự kiện Carol of Lights (Lễ khai mạc mùa Giáng Sinh) để tận hưởng không khí mùa Giáng Sinh năm nay. Được các nhà lập pháp bang Texas công nhận là thủ đô Giáng sinh của bang Texas (Christmas Capital of Texas) vào năm 2009, thành phố Grapevine mỗi năm thu hút hàng triệu du khách đến thăm vào thời điểm này hàng năm. Trong vòng 40 ngày kể từ Lễ Tạ Ơn đến hết mùa Giáng Sinh, đã có hơn 1,400 sự kiện Giáng Sinh diễn ra ở thành phố này. Grapevine thật xứng đáng được phong tặng danh hiệu Thủ đô Giáng Sinh của bang Texas.
Chỉ một đôi năm trước đây thôi, California nơi tôi ở hằng ngày nhất là vào cuối tuần, đi ngang qua những tiệm như Home Depot hay Little Orchard Hardware, bạn sẽ thấy rất đông những người đàn ông đứng rải rác gần đó để chờ được thuê đi làm những việc như: chặt cây, làm vườn, khuân vác, dọn nhà, …và những công việc nặng nhọc khác. Gần như tất cả đều là người Mễ lén nhập cư vào Mỹ nên không đủ giấy tờ để đi làm công sở như mọi người khác mà phải chịu thiệt thòi nhận những công việc lao động vất vả này. Chính phủ Mỹ biết, nhưng làm ngơ để cho họ có cơ hội làm việc lương thiện sinh sống, miễn là đừng làm gì vi phạm luật pháp là được.
Buổi sáng Christmas Eve năm ấy bình yên đến vô cùng. Lò sưởi kêu tí tách như ai gõ nhịp vui, hơi nóng lan ra làm cả phòng khách ấm hẳn lên. Cây thông đặt bên cửa sổ sáng rực bởi dây kim tuyến và những bóng đèn nhỏ đủ màu. Ánh sáng nhấp nháy phản chiếu lên tường, lung linh như mảnh ký ức thắp sáng từ những yêu thương. Trong bếp, vợ Nam đang lúi húi lấy khay bánh mới nướng ra khỏi lò. Chút bột trắng còn dính trên tạp dề, nhoẻn miệng cười- nụ cười xoá tan đi bao mệt mỏi. Mùi bơ, mùi quế, mùi turkey quay hòa vào nhau, thơm đến mức làm lòng người ấm lại. Căn nhà rộn rã tiếng cười, tiếng của hai vợ chồng, tiếng của đứa con trai năm tuổi đang chạy lon ton giữa phòng khách, chân nhỏ khua lên nền gỗ lách cách, suýt vấp vào hộp Lego mới, làm mẹ hốt hoảng: -Tin, coi chừng té đó con! - Ba ơi, ba ơi!! Thằng bé ôm cái ba-lô nhỏ chạy tới. Hai má đỏ bừng, đôi chân lon ton muốn vấp vào chính mình. Nó dừng trước mặt Nam, thở gấp, rồi lục lọi trong ba-lô như đang tìm kho báu....
Hôm nay, trong lúc dọn dẹp các hồ sơ, giấy tờ và các thư từ cũ để chào đón năm mới, tình cờ, tôi bắt gặp một tấm thiệp Giáng Sinh đã phai màu theo thời gian của một người bạn cùng khóa 7/68 KQ viết gửi chúc mừng tôi cách đây 33 năm, khi gia đình tôi vừa đến San José. Thiệp chúc mừng Giáng Sinh và Năm Mới của bạn Nguyễn Xong Kiệt. Trong quan hệ bạn bè cùng Khóa, tôi không chơi thân với Kiệt. Thời gian thụ huấn giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, và giai đoạn hai ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, thỉnh thoảng gặp nhau, chỉ bắt tay chào hỏi xã giao.
Rời quê hương theo diện đoàn tụ gia đình, tôi đến Mỹ vào một ngày cuối năm 1998, đúng vào mùa Giáng Sinh. Lúc ấy, tôi gần tròn năm mươi tuổi. Chuyến bay đưa vợ chồng tôi và ba đứa con nhỏ đến thành phố Tulsa, một vùng đất nhỏ yên tĩnh giữa miền Trung nước Mỹ, nơi mùa đông tuyết phủ trắng trời. Ngày đầu tiên đặt chân đến nơi đây, tôi vẫn nhớ rõ, trên con đường nhỏ về thị trấn Broken Arrow-gió lạnh thổi táp vào mặt, hơi thở hóa thành khói trắng, đường phố vắng tanh, chỉ có ánh đèn Noel le lói sau các khung cửa sổ. Cả gia đình chúng tôi quây quần trong căn nhà nhỏ của người em gái, vừa mừng vừa lo. Đó là mùa Giáng Sinh đầu tiên trên đất Mỹ, nhưng trong lòng mỗi người đều chùng xuống, buồn và nhớ nhà vô hạn.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Không khí sáng hôm nay thật yên lành, bầu trời xanh lơ trong vắt như được kéo lên cao hơn. Xa xa, một dải mây trắng như chiếc khăn “voan’ trôi lặng lờ tạo cho cảnh vật êm đềm nơi đây thêm thanh bình! Trong cái không gian im ắng của những ngày giữa tháng Bảy ở thành phố Dayton, tiểu bang Ohio này thì tại phi trường DAY (Dayton-Ohio) vẫn vắng lặng. Không biết tự lúc nào, nó đã trở nên thưa thớt vì đa số các chuyến bay đều đổ dồn về phi trường lớn CVG (Cincinnati/ Northern Kentucky International Airport) ở cách đây hơn tiếng đồng hồ lái xe khiến cho đa số hành khách đều chọn đến và đi từ nơi đó làm cho giá vé ở phi trường nhỏ này thêm mắc mỏ. Tuy nhiên vì thằng con chúng tôi được đơn vị AFROTC (The Air Force of the Reverse Officer Training Corps) của nó chọn mua cho vé ở phi trường gần nhà nhất nên nó đi tại đây và hôm nay là ngày nó khởi hành tới căn cứ không quân Maxwell Air Force Base tại Alabama để được thụ huấn khoảng ba tuần.
Giờ này tôi mới tỉnh táo sống cho mình với dư âm của buổi phát giải “Viết Về Nước Mỹ” do Việt Báo tổ chức vào ngày 30 tháng 11 năm 2025 tuần trước. Sau ngày đó, buổi sáng ngồi xe đò Hoàng trên đường trở về, tôi mở phone lướt vội xem có thông báo gì quan trọng từ các hội văn thơ. Mạ ơi! phó chủ nhiệm của trang Văn Học Cỏ Thơm (VHCT) ghi thẳng tên tôi to lớn, yêu cầu họa lại bài thơ Đường Luật của chị Phương Hoa. Tiếp theo là thư của chủ nhiệm VHCT hối thúc nạp bài cho kịp ra flipbook tháng 12. Kế tiếp các em Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa họp trên zoom chuẩn bị tổ chức buổi thắp nến nguyện cầu cho nhân quyền VN. Các em yêu cầu tôi làm bài thơ về các nhân vật đấu tranh đang bị giam cầm trong nước, được giải nhân quyền năm nay. Thật tình mà nói tôi nay đã già, chồng bệnh, lái xe tệ, không muốn tham gia việc gì nữa, nhưng em Huy trưởng nhóm của HDBCL nói một câu chạm vào tim tôi “Cô ơi, chúng cháu rất cần ba thế hệ một tấm lòng ...”. Em là kỹ sư từ lâu sinh hoạt rất hăng say ngoài Cộng Đồng...
Nhạc sĩ Cung Tiến