Tháng Mười Một: Con Cua Kình

18/11/201600:00:00(Xem: 8637)

Tác giả: Phan
Bài số 4971-18-30671-v6111816

Tác giả là nhà báo trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông cũng là tác giả Viết Về Về Nước Mỹ đầu tiên có bài đạt số lượng trên một triệu người đọc và đã nhận giải Vinh Danh VVNM 2016. Tuần trước, Phan có bài viết cho mùa tạ ơn, “Tháng Mười Một”. Từ nơi đang ở, cái xóm cầu gỗ (tên Mỹ là Woodbridge) làm nhớ “nơi có cây cầu khỉ” một thời tác giả từng sống và dạy học. Vẫn chuyện Tháng Mười Một, sau cầu khỉ là tới cầu “Rạch sấu” bắc qua con rạch đầy cá sấu.

* * *

2. Con Cua Kình…

Chân tôi bước lên cầu Rạch Sấu. Cây cầu gỗ không lớn hơn con đường độc đạo, nhưng có tên bởi nó bắc qua con rạch có cá sấu thật. Đôi khi nước ròng, những con sấu ăn no rồi ngủ quên trên bãi sình như nằm phơi nắng, nhìn dễ sợ lắm. Nhưng sáng nay thì nước lớn. Mặt trời tầm ngọn đước non. Ánh bình minh nhuộm cả sông Soài mênh mông. Cô thôn nữ chèo xuồng ba lá cặp theo mé sông lớn, làm nên bức tranh buổi sáng hữu tình đến dạt dào cảm xúc quê hương. Hình ảnh cô thôn nữ rẽ xuồng vào Rạch Sấu đẹp mê hồn. Quần áo dân dã pha màu với gió sông, nắng sớm lấp loáng trên sông vàng ánh. Mặt trời đậu lên chiếc nón lá làm duyên cho suối tóc bay về bồng lai. Da cô trắng mởn xuân thì rịt gió sông lồ lộ giai nhân sông nước đến mê hoặc hồn người, tay cô thả từng nhịp chèo hai mái đẩy đưa như thôi miên người dân thị thành qua cầu buổi sớm…

Té ra là con Mễn.

Nhưng phát âm theo địa phương thì gọi là “Mển”, nghe dễ thương quá. Nên tôi cũng gọi em là Mển.

Mển học lớp chín đã hai năm. Tháng sau mười tám tuổi. Tôi nhớ ngày sinh nhật của em vì con gái ở đây qua mười tám tuổi ưa nghỉ học ngang xương đi lấy chồng, chả thương gì mấy thầy chôn xuống tuyền đài một mối tình câm. Thật ra em tên là Trương thị Mến. Nhưng gọi Mến cứ phải lên giọng, lại nghe không hay bằng Mễn, vì em có đôi mắt của con nai vàng trong thơ Lưu Trọng Lư nên tôi gọi em là Mễn. Đến cả trường cũng gọi em là Mễn, nhưng ghe bạn bè của em cứ ơi ới gọi: Mển ơi, Mển à. Tôi cũng địa phương hoá theo vì nghe Mển dễ thương hơn Mễn.

Chiếc ghe đến sát gầm cầu Rạch Sấu. Mển ngưng chèo, tay nắm thành cầu. Nói chuyện với thầy:

“Con chào thầy. Thầy đi đâu sớm dzậy?”

“Xuống quán cô Chanh ăn sáng. Giờ thầy đi lấy đồ vá ở nhà Hoàng Yến. Em đi đâu vậy?”

“Con chở lúa vô chòi cho con Lan. Bữa nay ba má con đi đám giỗ bên sông. Con phải vô chòi phụ nó cho vịt ăn, lượm trứng.”

“Cực quá hen. Thôi em đi đi… để nắng.”

“Thầy rảnh hôn thầy? Đi chơi với con đi!”

“Sợ phiền cho em thôi. Hôm nay thầy nghỉ mà.”

“Đâu có gì phiền đâu thầy. Thầy xuống đây giữ xuồng cho con đi. Con chạy qua bên cầu mua hành, gừng. Vô chòi con nấu cháo vịt cho thầy ăn.”

“Để thầy mua cho. Em chờ thầy nha.”

“Dạ thầy.”

...

Tôi ngồi ở mũi ghe, quay mặt lại nói chuyện với Mển. Bốn bề sông nước mênh mông, bao la như lòng tôi cảm khái. Nhưng nhớ hình ảnh thầy Thạnh chân đất, quần tây xắn lên đến đầu gối, áo sơ-mi bỏ trong quần, thắt dây lưng da tử tế, nhưng trên cổ có cái khăn rằn để lau mồ hôi. Hai tay nhịp chèo, phì phèo thuốc cán. Cô Chanh ngồi ở mũi ghe, nón lá nghiêng che… cho con ngủ. Cái gánh hát nhà thầy Thạnh nửa tỉnh nửa thành đến khó quên. Tôi nghĩ. Thầy Thạnh chỉ cần biết vấn thuốc rê nữa là thành một người nông dân biết đọc!

Tôi cất kỷ niệm về Mển lặng lẽ vào hồn mình như chiếc dầm chèo thôi khua nước sông quê.

Chiếc ghe cặp vào gò giữa sông nước mênh mông, những khóm dừa nước lao xao sau túp lều tranh dân dã trong nắng sớm. Hình ảnh thái hòa làm tâm động hay lá động cũng in đậm vào tâm khảm ông thầy về con người và thiên nhiên sông nước. Mển hiền như lục bình trôi, nhưng ai đã một lần thấy thì không quên được màu tím dịu dàng của hoa lục bình. Tôi đang nhìn em cười với nắng đến nhạt nhòa son phấn phố thị, những chiếc váy thật ngắn ở Sài gòn như đã thuộc về quá khứ rất xa… Có lẽ thầy Thạnh là dân khoa toán nên thầy giải phương trình xong là xong, không như bên văn tôi cứ lơ mơ nỗi niềm để đêm về chong đèn kể lể… “Tạ ơn em. Đã cho thầy Tin Lành trong cuộc đời không có tương lai, và hạnh phúc thì như một điều xa xỉ trong xã hội đương thời. Hình như không có em trong cái xã hội bất nhân, thù địch này. Em cứ ở đây với tình yêu của đất, thật thà với nước tới muôn đời em nhé! ”

Tôi xuất thần miên man. Mển gọi tôi.

“Thầy nghĩ gì mà mơ màng vậy? Tới rồi.”

“Đây là chòi của nhà em đó hả? Thầy thấy giống một căn nhà chứ gọi là chòi thì không phải lắm đâu!”

“Dạ. Ba con cất hơi kỹ để có thể ngủ lại những hôm mưa quá hay bão. Ba ở trong đây có khi cả tuần đó thầy. Từ hồi hòa bình, ba con cực lắm! Sau này tụi con lớn mới phụ ba được công chuyện.”

“Vậy hả. Nhưng còn con Lan, sao nó không đi học?”

“Thầy coi, nó đi học thì ai phụ ba con? Má con thì cứ bịnh hoài. Con với nó phải nghỉ một đứa. Nó học dở nên nó tự nghỉ đó. Không phải con giành đâu nha.”

“Suy ra em học giỏi?”

“Thầy đừng chọc con mà…”



Chúng tôi vào chòi. Mển nói Lan là cô em kế, thua chị hai tuổi nhưng cao lớn hơn chị nhiều. “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” cũng gần đúng với em Lan có phần vô tư hơn chị nhiều.

Mển nói: “Lan ơi! Em làm cho chị Hai con vịt. Bắc nồi cháo luôn nha cưng. Chị Hai đi cho vịt ăn.”

Tôi theo Mển đi lượm trứng, dễ còn hơn lượm vỏ ốc ngoài biển. Cứ bỏ vào cần xé lót rơm cho êm là việc tôi làm được. Mển cho vịt ăn những bao lúa mới chở vô. Thoáng một lát, trứng vịt đã đầy cần xé. Thầy trò vừa làm vừa trò chuyện, tôi nói cho em nghe về những gia đình ở thành phố ăn cơm cả nhà nhiều người, nhưng chỉ có hai cái trứng luộc giằm trong chén nước mắn, chấm rau luộc, hay bắp cải luộc. Ở đây thì trứng như khoai, bù lăn bù lóc, đến giẫm phải trứng lẫn trong rơm.

Tánh em dễ ngậm ngùi nên mặt buồn so,“Tội nghiệp cho mấy người ở thành phố quá ha thầy. Chừng nào thầy về thăm nhà thầy trên thành phố, cho con gởi chục trứng cho mấy người ta luộc ăn thêm nha thầy…”

Thành thị và thôn quê đang so sánh trong đầu tôi thì Lan gọi vô ăn cháo. Mới biết con gái dưới quê giỏi thật. Mười lăm, mười sáu tuổi đã biết nấu ăn một mình. Bữa ăn ngon miệng thì thôi, lại vui vẻ với đủ thứ chuyện kể của Lan. Cô bé cứ tròn xoe đôi mắt tả về con cua kình: “Con thấy con cua kình bự như miệng rổ. Nó bò vô hang ở đằng gốc mắm, đằng kia kìa! Con sợ người ta thấy thì đào bắt, nhưng một mình con đào không nổi đâu! Con tính hang nó sâu lút đầu người à thầy. Vậy là ngày nào con cũng chèo xuồng ra hang nó. Con lạy nó bò lên cho con bắt chứ con đào sao nổi. Nhưng nó không chịu nên con phải kéo cỏ, kéo chà che lại. Sợ người ta thấy...

Con mà bắt được nó thì cả dòng họ ăn không hết!”

Tôi cười đến sặc với cô bé ngây thơ, với con cua cả dòng họ ăn không hết. Mới biết sức tưởng tượng của Lan-kình mênh mông… Ba thầy trò lại cười bò lăn với cái tên Lan-kình do ông thầy ngẫu hứng nghĩ ra. Nhưng em nhất định không chịu cái tên kỳ cục. “Con giận thầy à nghen…”

Ăn cháo xong, chẳng có việc gì làm ngoài kể chuyện thành phố cho hai cô nhỏ này nghe. Cứ chốc chốc, Lan lại phải ra thăm đàn vịt đẻ vì hình như có chồn rừng về bắt vịt nên đàn vịt tao tác. Nhưng Lan đi thì thầy phải ngưng kể, chờ con vô mới được kể tiếp! Tội nghiệp Lan ở chòi riết nên thèm chuyện như khát nước đợi mưa. Nghe Lan kể không ngờ những hôm lu nước mưa trong chòi cạn sạch. Em khát tới cầu mưa. Tôi hỏi em Lan: “Hồi em cầu mưa xong, em có há họng lên trời đợi mưa không?” Em Lan trả lời: “Ờ! Con quên ha… Hèn gì trời không mưa.”

Mển cười đến làm vỡ trứng, “Sao ở trường thầy nghiêm quá… !”

Mển đếm, xếp trứng vô cần xé khác theo đúng cách để chiều nay chở về giao cho mối lái, đêm họ sẽ cho xuống tàu đò đưa về thành phố.

Ngoài trời đã đứng bóng hàng dừa, nắng chang chang. Chỉ có tiếng gió xào xạc đám dừa nước sau chòi. Lan nằm tòng teng trên chiếc võng ca vọng cổ. Tôi ra dấu cho Mển im lặng để tôi nghe. Từ giọng hát em hiện ra những phận đời côi cút đến thương tâm trong tuồng cải lương “Con gái chị Hằng”. Áo này một tay má sắm má may. Má đã đi rồi áo vẫn còn đây…; đến chuyện tình đã làm mủi lòng bao thế hệ, mà phải trong không gian phù hợp người nghe mới thấm hết xót xa... Điệp ơi! Lan cắt đứt dây chuông để rẽ chia đạo đời đôi ngã/ nhìn theo bóng anh đi mà lả chả lệ… tuôn…trào…

Tôi nghe quên thôi. Mển xong việc, vặn vẹo như con mèo lười vừa ngủ dậy, ngáp vắn ngáp dài như công việc thấy vậy mà không phải vậy. Giờ tôi mới hiểu được đời sống và việc làm của người nông thôn. Thấy tự tại đó nhưng từng hạt gạo, qủa trứng đều là mồ hôi và công sức đáng trân trọng. Tôi còn thấy được tình chị em của Mển không giống anh em tôi là thằng em nhanh chân trốn đi đá banh để thằng anh bị mẹ bắt lại chẻ củi xong mới cho đi. Tôi nhớ người anh kế của tôi, anh ra tới sân banh thì mọi người đã chuẩn bị về, anh tôi đá tôi vì không ai đá banh nữa. Nhưng trước mắt tôi lại là chị bảo em nghe. Em nằm ca hát, chị làm thấy mồ, vậy mà không sanh nạnh. Người nông dân dạy con bằng chính cuộc sống của họ. Nên sự thật thà, yêu mến người thân truyền lại đời đời. Tôi có cảm tưởng mình đang dạy học trò về Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, “anh em như thể tay chân/ như chim liền cánh như cây liền cành…” Nhưng thằng nhóc mê đá banh trong tôi lại không yên. Hôm nay tôi lại nghỉ. Tôi mới là một thanh niên còn mê đá banh mỗi chiều nên chân tay cũng không thể ngồi yên lâu. Tôi nói,

“Lan ơi! Em hát hay lắm, nhưng hát hoài thì thầy không có chỗ ngủ. Đi tìm việc gì làm đi. Sẵn thầy ở đây thì thầy giúp em một tay.”

Lan trả lời: “Con chỉ muốn đi bắt con cua kình. Thầy giúp con hôn?”

“Được. Chúng ta đi.”

Lan quay qua hỏi Mển: “Chị Hai đi luôn cho vui?”

“Ừ, đợi chị thay đồ. Nhưng mà hổng được đâu Lan ơi, mình đi hết thì ai coi chừng vịt?”

“Hổng sao đâu! Em thả chó ra nãy giờ, chồn chạy hết rồi! Bây giờ em nhốt chó lại là xong, để thôi nó vật vịt. Với, em ở đây một mình. Hồi buồn quá, em cũng chèo xuồng đi chơi một mình hoài hà… Hai đừng méc ba nghen.”



Mển hỏi tôi: “Thầy thay đồ ba con nha thầy? Chứ đồ thầy đâu đi bắt cua được.”

Hai chị em Mển được một trận cười khoái chí khi thấy thầy trong bộ bà ba đen bạc màu sương gió. Không có gương nên tôi không biết hình thù mình lúc đó ra sao? Chỉ thấy xót xa cho hai em trong hai bộ bà ba cũ, phèn đã nhuộm đến đầu gối, cùi chõ áo. Nhưng hai em rất hăng hái lấy mai, xẻng để đào, đem nước uống xuống ghe.

Lan cầm chèo còn nghề hơn Mển, chắc nhờ sức khỏe. Lan chèo nhanh đến rẽ sóng thuyền đi. Không bao lâu chúng tôi đã đến cây mắm. Nhìn về căn chòi mới thấy hơi xa và nhìn cây mắm thì lớn hơn mình nghĩ.

Chúng tôi bắt tay vào việc, khi mồ hôi đã thấm lưng thì tôi hăng nhất. Cứ hất từng xẻng bùn đầy sang hai bên. Hai em quan sát dấu vết của con cua và cho tin khả tín nên tôi càng hăng đào. Thấm mệt thì dừng tay, có Lan có Mển tiếp tục đào. Càng xuống sâu, sình càng rắn lại như đất dẻo, rồi đất sét. Thầy trò dừng tay nghỉ mệt, uống nước. Tôi mới thấy cái hố đào được đã cả một mét khối đất. Dấu vết con cua vẫn còn nên chúng tôi tiếp tục hăng say đào. Thêm mét khối đất nữa được chuyển lên bờ thì chúng tôi thấm mệt. Cái hố đã sâu bằng đầu người và ba người đứng lọt trong đó thì cái hố đâu phải nhỏ. Nghĩ lại em Lan cũng kinh nghiệm đầy mình mới đoán biết được hang cua sâu lút đầu người.

Đất càng ngày càng cứng, rễ cây mắm càng dầy. Chúng tôi lại ngồi nghỉ, uống nước. Tôi không tưởng tượng được sức khỏe của hai cô gái quê này. Thấy mảnh mai là vậy nhưng khi làm việc thì bền bỉ, dẻo dai. Thay phiên nhau đào và chuyền đất lên trong khó khăn của chật chội và rễ cây mắm đan lưới dưới đất sâu. Các em kiên nhẫn đến đáng nể. Tôi thì tin tưởng ở dấu vết con cua vẫn còn nên tiếp tục. Bây giờ chỉ còn đào được một lỗ tròn bằng hai miệng thúng với thế hướng rẽ trái vì rễ cây mắm to quá đã cản đường xuốn sâu. Đất thì bắt đầu nhão lại là dấu hiệu con cua sinh sống trong đó. Cái lỗ tròn bằng hai miệng thúng đã quá tầm tay, nên tôi từ từ mất hút vào trong đó. Không còn xài xẻng, mai được nữa nên phải đào đất bằng tay. Tôi chuyền ra cho Mển, Mển chuyền cho Lan mới đủ sức ném được qua đống đất mà chúng tôi đã đào lên.

Tôi đã vô cái miệng thúng lớn hết một thân người nên việc chuyền đất ra càng khó. Tôi lại không biết coi dấu vết con cua quẹo bên nào nên làm mất dấu. Làm em Lan khóc ngọt, “Dzầy là mất con cua của con rồi,…” Cô bé hết tinh thần trong cơn mệt lả. Nhìn thương thảm làm sao.

Mển nhìn mặt trời đoán giờ, rồi nói với em Lan: “Lan ơi! Tới giờ cho vịt ăn rồi đó. Em về cho vịt ăn đi. Xong rồi quay ra đây. Để chị Hai coi lại coi sao. Đừng khóc nữa.”…

Mển nói vậy thôi mà Lan hết ngậm ngùi, ra sông tắm rửa, lặng lẽ chèo về chòi cho vịt ăn.

Còn lại hai thầy trò, Mển hỏi tôi: “Thầy tính sao giờ, thầy?”

Tôi nói: “Em vô coi thử đi, nếu tìm được dấu vết thì thầy đào tiếp. Ráng bắt cho được con cua này cho Lan. Nhìn nó khóc tội nghiệp quá!”

“Nó dzậy đó thầy ơi! Về nhà là nó quên hết hà.”

“Em coi lại thử đi. Ráng tìm cho ra dấu vết.”

Mển tìm được dấu vết con cua, rồi ở luôn trong đó. Moi móc từng bụm đất nhão chuyền ra cho tôi. Tôi thay phiên thì đường hầm sâu hút như đã tới âm phủ. Thật vô cùng vất vả cho hai thầy trò ngoan cố, nhưng chạm mắt nhau trong không gian hẹp lại thích thú đồng minh với tính cứng đầu. Cứ “ráng đi thầy”, rồi “ráng đi Mển”… tới tảng đá cục cựa dưới bụng làm tôi hoảng hồn, la làng!

Chúng tôi đã đào qua luôn chỗ con cua nằm. Phải kinh nghiệm dữ lắm, Mển chỉ tôi mới thấy ra con cua ém mình khôn khéo vô cùng vào một hốc rễ cây mà dân thành phố như tôi thì đánh chết cũng không nhìn ra được.

Moi được con cua kình như những nhà khảo cổ đào được báu vật. Thầy trò ngồi thở dốc dưới hố sâu như một cái huyệt chôn người chết. Tôi chưa bao giờ thấy một con cua to đến thế này. Nó già như ông trăng, già đến không thèm nhúc nhích. Mển thích chí mê hồn với thành tích hôm nay. Cứ gõ cộp cộp lên lưng con cua già, rồi cười khanh khách. Tôi nhìn lên bầu trời không gợn một áng mây…

“Thầy nghĩ gì mà nhìn trời hoài vậy?” Mển hỏi đột ngột. Nên tôi trả lời: “Em nhìn lên trời thử xem, đây là câu thành ngữ: ếch ngồi đáy giếng mà thầy nói bao nhiêu các em cũng không hiểu.”

“Con hiểu mà. Mình ngồi dưới đây thì ông trời nhỏ xíu… phải hông thầy?”

“Nhưng ông trời thật của mình là ở trên kia, là bao la, là bát ngát. Mình ngồi mãi dưới này chỉ là giếng đâu ếch đó. Em có hiểu không?”

“Thầy nói, con hổng hiểu gì gáo (ráo)!”

“Thôi lên. Tắm rửa rồi về.”

“Mệt quá thầy ơi! Cho con nghỉ một chút…”

Tới cả ngàn năm sau ông thầy cũng không hiểu gì ráo nên ngồi yên cho Mển tựa vai thầy nghỉ mệt.

Tới cô trò xổng hồn mơ màng, “Thầy dzái trời cái gì dzậy thầy?”

“Thầy vái ông trời rụng thiên thạch, lấp kín hố này, cho giếng đâu ếch đó. Em có sợ chết không?”

“Thầy bị ma nhập rồi hả thầy? Đừng làm con sợ. Thôi lên. Nhanh lên…”

Chúng tôi ra sông tắm. Mển tắm cho con cua già rêu vàng, rêu xanh mọc đầy trên mình nó. Con cua không cần cột tay trói chân cũng nằm im như đá linh. Chả biết đá thiêng hay đá tội tình.

Lan chèo xuồng ra chưa tới nơi, nghe tiếng chị cười nên em cũng reo vui. “Bắt được rồi hả chị Hai?” Tiếng hai chị em vang theo sông nước tới muôn trùng…

Tạm biệt căn chòi mà tôi nghĩ lúc rời xa là thể nào tôi cũng trở lại vì một phần tâm tư đã hoà vào đất, nước nơi này. Nhưng nghiệt ngã chờ tôi muôn lối dưới trời bao la, bát ngát. Khung trời nhỏ xíu tôi yêu sẽ mãi là kỷ niệm chốn quê nhà.

Mển chèo xuồng về chòi, rồi chèo về nhà vì ba em đã ra chòi ngủ đêm để coi đàn vịt. Lan ngồi mê mẩn với con cua già trong khoang ghe. Hai cần xé trứng đầy ụ chở về cũng là hai cần xé mồ hôi nước mắt người nông thôn đổi lấy cuộc sống của cả một gia đình hiền lành, chất phác. Cầu cho họ an lành.

Mặt trời đỏ ối trên sông Soài vẫy chào một ngày lành đã qua. Tôi cứ nhìn Mển buông từng nhịp chèo mà buông thả tâm tư theo gió. Tôi thấy mình mặc quần jean Levis, áo thun adidas, cổ quấn khăn rằn, chân đất; tay chèo nước ngược, tay chống gió chướng, để Mển mãi hồn nhiên… tôi ngủ thiếp đi.

 Câu chuyện của hai chị em nhà họ Trương đánh thức tôi dậy,

“Lan ơi! Chị Hai thấy… hay mình thả nó đi nha Lan?”

“Chị Hai nói gì kỳ dzậy. Cực thấy mồ tổ mới bắt được con cua vĩ đại như dzầy! Rồi biểu thả!”…

“Hai thấy nó giống như bà già mù ăn xin ở cầu đò Phú Xuân. Tội nghiệp quá hà.”

Lan lay tôi, “Thầy, thầy dậy đi. Thầy tính sao, chị Hai con nói…?”

“Ừm… Thả bà tiên dưới gốc cây mắm đi em. Bà ấy sẽ ban thưởng cho em đó.”

“Thiệt hôn thầy?”

“Nếu em chịu thả thì tối nay em ngủ mơ sẽ gặp bà tiên cua. Em ước gì thì nghĩ sẵn đi để không kịp xin tiên ban cho.”

“Nhưng không đem về xóm… thì đâu ai biết mình bắt được con cua bự nhứt từ trước tới giờ?”

Mển nói chen vào: “Có thầy làm chứng là người ta tin hết đó. Thả nó đi Lan ơi!”

Lan ngồi suy nghĩ lâu. Cô bé nhoẻn miệng cười: “Con ước bà tiên may cho con bốn cái áo dài. Hôm trước con thấy mấy chị trong xóm đi đám cưới, mấy chị mặc áo dài đẹp lắm. Con thích bốn màu là màu đỏ lựu chín, màu xanh lá mạ, màu tím hoa cà với màu vàng bông đậu bắp…”

Như một thỏa ước với thần linh đã ngã ngũ. Cô bé thả con cua già xuống làn nước sông đùng đục. Giòng nước mang đi bốn màu hoa quả của người chân quê, kẻ thị thành gởi theo câu lỡ lời “giếng đâu ếch đó” nhé bà tiên cua, vì người cầm chèo đã hoen mắt hiểu khi chiếc xuồng cặp vào cầu Rạch Sấu để thầy về.

Tạ ơn em mùa về ngọt ngào kỷ niệm.



Phan

Ý kiến bạn đọc
01/12/201608:56:51
Khách
Qua một khung cảnh ở Mỹ,rồi nhớ về câu chuyện đã xảy ra ở nơi nào đó ở quê nhà ngày xưa...thật thấm thía nghĩa tình..chắc chỉ còn ở nhửng tâm hồn nghệ sĩ lãng mạng....câu chuyện kể nhẹ nhàng nhưng..day dứt.Tôi thích.Rất cám ơn tác giả.
22/11/201618:29:47
Khách
Tội nghiệp con cua ! tự nhiên hang nhà bị phá tan tành . Rồi bất ngờ hưởng được ơn ân xá 50% , thay vì được đem về thả lại chỗ hang cũ thì cua bị bỏ ở nơi xa xôi , cơ hội sống sót rất thấp vì không còn hang sâu để ẩn mình .
Nhiều khi tôi thấy nhiều người đi câu cá , được rồi thì lại thả đi , rồi tự vui vì mình QUÁ nhân đạo , Bắt được thì ăn , chuyện đó bình thường . Từ nguyên thuỷ con người đã săn bắt thú vật để làm lương thực .
Nhưng tự nhiên đi làm cho con vật bị thương tích rồi đem thả , chưa chắc gì con vật đó sống sót được với vết thương . thật là ....
20/11/201607:08:41
Khách
Cho dù bài này không có dòng chữ nào mô tả cảnh hay tình ở Mỹ, nhưng tôi vẫn đọc một mạch từ đầu đến cuối với sự say mê vì tôi là kẻ tha hương, nhớ về quê nhà đau đáu. Tác giả đã đưa tôi về những buổi trưa nắng đổ, ngả mình trong chiếc võng đong đưa dưới tàng cây vú sữa mà nghe nhịp thở quê hương, đã đưa tôi về những ngày thơ dại, vui mừng chạy loanh quanh hò hét khoe với bạn bè khi câu được con cá lòng tong, hay những ngày buồn ngồi im lặng mà nhìn con nước lớn, nước ròng theo thủy triều vào ra từ những con lạch trước sân nhà.
19/11/201604:34:58
Khách
Tôi không biết nói gì hơn là "Hay quá!" Cảm ơn tác giả, tấm lòng ông đẹp và sáng như đêm trăng rằm bữa trước!
18/11/201619:30:48
Khách
Hình như tình yêu sắp tới cho cả 2 Thày và Trò.Mến
18/11/201618:21:00
Khách
Vào trang Viết Về Nước Mỹ là để đọc về cảm nghĩ và đời sống cùng kinh nghiệm sống viết bởi những người cư ngụ ở Mỹ, chớ đâu phải để đọc về những chuyện xảy ra ở Việt nam.

Chán quá !
18/11/201617:27:59
Khách
Tưởng chỉ có ông giáo hưu trí Phạm Hoàng Chương nhầm lẫn viết bài Một Đêm Ở Phú Quốc trong mục Viết Về Nước Mỹ này, ai dè ông Phan- người thường xuyên đăng bài viết trong mục này- cũng phạm lỗi tương tự .

Sai chủ đề, thì dù có viết hay đi nữa cũng cần phải bị loại khỏi ngay trong vòng đầu của cuộc thi tranh giải.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 810,130,851
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Khanh con gái bà chị họ của tôi, sinh năm Nhâm Tý xuân này tròn 48 tuổi, ông bà mình bảo, Nam Nhâm, Nữ Quý bảnh nhất thiên hạ. Mẹ nó tuổi Quý Tỵ, khổ như trâu, một đời vất vả gánh vác chồng con, con bé tuổi Nhâm mạnh mẽ như con trai nhờ ông ngoại hun đúc từ tấm bé.
Nhìn hai cây sồi cổ thụ ngoài ngõ cũng đủ biết căn nhà đã trả hết nợ từ lâu. Hai cái xe Cadillac của người già không lên tiếng nhưng nói biết bao điều về nước Mỹ. Khi còn trẻ thì người ta không có tiền để mua những cái xe đắt tiền như Cadillac, Lincoln. Những cô cậu thanh niên mắt sáng, chân vững tay nhanh, chỉ đứng nhìn theo những chiếc xe bóng loáng, mạnh mẽ…
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả
Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa Sau đây là bài viết mới nhất của Ông nhân ngày lễ Tạ ơn
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi, thấy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7/2018, với bài “Thời Gian Ơn, Ngừng Lại”. Tên thật: Nguyễn Thị Kỳ, Bút hiệu: duyenky. Trước 30.4.1975: giáo viên Toán Lý Hoa-Tư thục-Saigon-VN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.