Bộ Lư Đồng Mắt Tre

23/01/201400:00:00(Xem: 11998)
Tác giả: Triều Phong (TPN)
Bài số 4122-14-29522vb6012414


Tác giả tên thật Trần Phương Ngôn, cho biết ông là thuyền nhân trên chiếc tàu vào loại lớn nhất, chở 246 người, con số đông nhất trong một chuyến vượt biển. Tác giả cũng đã sống ở trại tỵ nạn PFAC của Phi Luật Tân gần mười một năm và chỉ mới định cư tại Hoa Kỳ từ 2004. Hiện hành nghề Nail tại tiểu bang South Carolina và cũng đang theo học ở trường Trident Technical College. Bài viết mới nhất của Triều Phong là chuyện bàn thờ ngày giáp Tết.

* * *

Từ sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam rồi thì đời sống của dân chúng thê thảm lắm. Hầu như gia đình nào cũng có ông bà, cha mẹ, anh chị em, đi tù cả. Họ hàng chú bác nhà tôi có năm sáu người ở tù từ Nam ra tới Bắc nên luôn bị chính quyền địa phương để ý bởi dòng họ có nhiều “sĩ quan Ngụy đang đi cải tạo.” Tài sản của dân thì chính quyền tìm cách tịch thu hết. Nhà nào cũng xơ xác, đói nghèo tràn lan do chính phủ và người dân miền Bắc mang vào. Đi đâu cũng thấy nón cối, dép râu, xe đạp cọc cạch. Ở cơ quan, xí nghiệp, công nhân lo làm việc thì ít nhưng lo “chạy mánh,” giành nhu yếu phẩm thì nhiều. Nơi trường học, nhiều hôm học trò ngồi lơ láo, đợi thầy cô đi nhận phần thịt hoặc cá đang chia ở phía văn phòng ban đời sống cả giờ đồng hồ vẫn chưa trở lại dạy …

Trong cái không khí u ám ấy năm 1978 sau khi tốt nghiệp cấp ba xong, ba tôi thấy tình thế chắc là không ổn do chính sách đàn áp, phân biệt đối xữ đối với dân chúng miền Nam nên ông quyết định cho tôi vượt biên. Nhưng tôi đi không thành và bị bắt. Tôi vốn nhỏ con, nên trong tù tôi khai tuổi mười ba dù đã mười tám do đó mỗi sáng tôi được cho ra sân nhổ cỏ. Lơi dụng cơ hội này một hôm tôi trốn mất! Về Saigon dĩ nhiên là tôi không dám trờ lại địa phương nữa mà trốn nơi nhà bà nội tôi. Từ một học sinh mới lớn, thơ ngây, chả biết gì mùi đời bấy giờ tôi đã trở thành một tội phạm trốn chui trốn nhủi, sống bất hợp pháp, cuộc sống vô cùng khó khăn, lo sợ đủ thứ. Đúng là sống với Việt Cộng mà không hộ khẩu thì đời kể như hậu khổ rồi!

Nhà bà nội tôi nằm kế nhà từ đường của dòng họ. Bà cố tôi ngày xưa ở đây và nghe kể lại là bà chuyên sống về nghề làm bún. Khi làm ăn khấm khá bà mở lò bún nên thiên hạ gọi bà cố tôi là bà chủ lò bún. Lúc giàu có bà mua nguyên miếng đất to gần cả mẫu rồi chia đều cho mười người con nên gia đình con cháu sống gần nhau là thế. Đó là lý do mà ba tôi đưa tôi về đây trốn cho an toàn hơn. Lúc ấy đất rộng người thưa, tôi ngày tối cứ quanh quẩn ngoài vườn. Sân vườn thì to lớn với đủ loại cây trái như xoài Thanh Ca, chuối sứ, chuối già, mận, ổi, mãng cầu (trái na), hồng quân…mặc sức cho tôi leo trèo.

Tết năm 1979, ba tôi đem bộ lư trên bàn thờ ra sau hè rồi hai cha con hì hục chùi. Tuy không ăn tết gì rình rang nhưng sẳn tiện năm nay có tôi nên ba tôi muốn tôi phụ chùi bộ lư với ông bởi lẽ ba năm rồi đâu có ai còn lòng dạ nào mà lo tết với nhất nên bộ lư bị oxide đồng, đen xì xì. Lúc đó đâu còn có dầu chùi bóng nên hai cha con tôi hái khế để thay thế vì trong trái khế có acid acetic (CH3COOH) dùng để làm nhả oxide ra được. Lúc tôi trèo tuốt lên ngọn cây thì ông đứng bên dưới nhắc nhở:

- Thôi tới đó được rồi đừng leo cao nữa nha con. Người ta nói “nhất hóc xương gà, nhì sa cành khế” đó mày. Té cây khế là nguy hiểm lắm ấy!

Rồi ngoài khế ra ông còn lấy cát đất trộn với nước cho sền sệt và dùng nùi giẻ cũ chùi thêm. Hàng xóm ai nhìn thấy cũng cười cách ông làm. Tuy vậy cuối cùng là sau cả ngày bận rộn, chúng tôi đã có bộ lư sáng láng nhưng nếu nói về độ bóng thì nó không được bóng lắm. Dù sao như vậy là cũng tốt lắm rồi vì thời buổi ấy chỉ làm được tới đó thôi bởi cơm còn không có ăn thì lấy đâu ra dầu chùi bóng của tây?

Hôm sau sẳn trớn và hứng chí hay sao chẳng biết, ông đi sang nhà bà cố tôi và nói với người đang trông coi nhà thờ lúc này là chị em cô cậu với ông rằng để ông mang bộ lư trên bàn thờ về đánh bóng luôn. Dĩ nhiên là cô tôi hưởng ứng hết mình nếu ông có lòng bởi cũng như bộ lư bên nhà bà nội tôi bộ lư này cũng đen thui vì từ ngày các bác tôi bị đưa ra Bắc “cải tạo” thì đâu còn ai chăm sóc nó. Khi phụ ba tôi bưng bộ lư xuống, tôi mới chợt nhận thấy bộ lư này khác với bộ lư nhà nội tôi vì nó có hai nhánh hai bên với rất nhiều mắt như mắt tre mà thưở nhỏ dù nhiều lần sang đây chạy loanh quanh dưới bàn thờ tôi vẫn chẳng bao giờ để ý đến. Phía trên nắp nó cũng có trang điểm một khúc to hơn nằm ngang với nhiều mắt. Nhìn thấy ánh mắt tò mò của tôi ông giải thích:

- Bộ lư này gọi là lư tre vì nó có nhiều mắt như mắt tre. Bộ lư này quý hơn bộ lư bên nhà mình. Ngày xưa nghe nói bà cố con mua đắt lắm. Còn bộ lư bên nhà là lư trái đào vì nó có hai trái đào bên thân lư. Lư trái đào thì rất xoàng và rẻ tiền!

- À, ra là vậy. Tôi vừa gật gù vừa ngắm nghiá bộ lư tre khá nặng đang cầm trên tay.

Nếu lư trái đào cha con tôi chỉ chùi một ngày thì bộ lư tre chúng tôi phải mất đến ba ngày vì nhánh tre vừa nhỏ lại vừa quằn quèo, nhiều mắt, khó cầm, khó chùi. Rồi sau khi làm xong thì hai bàn tay của tôi và ba tôi bị trầy xước chảy máu nhiều nơi do bị cắt bởi các mắt tre.

Tết năm đó khi cả dòng họ về thắp nhang cho bà cố tôi, thấy bộ lư tre sạch đẹp, bóng láng, ai ai cũng tắm tắc khen ngợi hai cha con tôi khiến ông nức lòng. Ngôi nhà thờ bà cố tôi gồm ba gian, hai chái, mái ngói âm dương, với mấy trụ xi măng tròn to cở một người ôm ở trước hàng ba mà bên ngoài trông vào người ta ngỡ đó là một ngôi chùa nhỏ khiến cho nhà từ đường có vẻ trang nghiêm cổ kính. Bên trong, nền nhà được lót bằng gạch Tàu. Ngay gian giữa có hai cột quá giang bằng gổ mun vuông, đen bóng, dùng để đỡ lấy mái nhà và trên hai cây cột này cũng có hai tấm gổ bằng gỏ mun được treo từ trên trần xuống tới gần mặt nền với hai câu đối viết bằng chữ Hán có mạ vàng nhủ mà tôi không hiểu nghĩa là gi. Ở vách bên phải từ ngoài bước vào có một bức tranh lụa thật to, vẽ bằng màu nước với hình Long Hổ Tranh Châu được lồng trong một cái khung cầu kỳ, hoa văn tao nhã mà cạnh viền từ trên xuống dưới cũng có hai hàng chữ Hán nhỏ hai bên.

Giữa nhà là bàn thờ gõ mun đen với bức vẽ chân dung to lớn của bà cố tôi đang ngồi trên ghế trong chiếc áo dài nhung xanh dương đậm. nom thật uy nghi. Nhìn khói bay nghi ngút, lượn lờ quanh bộ lư tre, làm mờ nhân ảnh của bà cố tôi khiến cho gương mặt của bà như từ chốn sa mù nào dội lại. Mùi hương thoang thoảng nơi bát nhang đang đốt tạo cho khung cảnh nét trầm mặc xa xăm, thiêng liêng huyền bí của cõi vô hình khiến lòng tôi bồi hồi mỗi lúc trông lên bàn thờ. Từ đó, hàng năm ngoài việc chùi bộ lư trái đào tôi còn lãnh thêm phần chùi bộ lư tre trên bàn thờ của bà cố tôi nữa.

Thời kỳ này như bao gia đình khác, các cô bác bên nhà bà cố tôi, nhà tôi, đều phải mang bàn ghế tủ giường đem bán để lấy tiền mua cơm gạo nuôi con cái, sống lây lất qua ngày. Và bộ lư tre là một món đồ mà những thương lái, những người mua đồ cũ rất thích. Họ năn nỉ mãi nhưng gia đình tôi nhất định không bán bởi nó là một trong các kỷ vật sau cùng của bà cố tôi nhờ vậy mà chúng tôi mới còn giữ được nó cho đến bây giờ. Lúc ấy những gia đình khá giả còn có tiền đàn đúm nhau năm bảy người ra Bắc thăm thân nhân hay trèo đèo lội suối tới tận chốn thâm sơn cùng cốc để gặp người thân chứ còn gia đình tôi nghèo quá phải tiện tặn mọi thứ để thỉnh thoảng gửi quà ra miền Bắc qua đường bưu điện khi các bác tôi gửi phiếu thăm nuôi về nên nhà rất là đói khổ. Đây là giai đoạn cả miền Nam rơi vào tuyệt vọng bởi quá khứ vàng son đã lùi sâu vào dĩ vãng để lại một thực tại bi đát phủ phàng và tương lai là một vùng biển cả tối đen, người ta như các con thuyền nhỏ trôi bấp bênh trong mênh mông vô định. Suốt thời gian ảm đạm này, tuy không nói ra nhưng mọi người đều đọc được trong ý nghĩa của nhau về nỗi lo sợ sẽ nhận được hung tin chết chóc của những người tù trong một ngày không xa. Tuy nhiên may mắn hơn một số gia đình khác là nhà tôi không có ai bỏ xác trong tù cả. Các chú bác tôi lần lượt trở về, người “học tập” ít nhất là gần ba năm, người lâu nhất là mười hai năm!

Khi chương trình HO được ký kết giữa hai chính phủ Mỹ và Việt Nam xong, một số chú bác tôi hội đủ điều kiện đã lên đường định cư. Hiện mọi người đang sống rải rác trên nước Mỹ. Sau gần hai mươi năm cố gắng làm việc cộng với năm tháng tù tội thì bây giờ tất cả đã về hưu vì già yếu và bệnh tật.



Tối hôm qua tôi gọi điện thoại về Việt Nam thăm nhà, sau một hồi chuyện vãn thì cô tôi trở giọng buồn buồn cho hay là bộ lư mắt tre của bà cố tôi vừa bị ăn trộm lấy mất cách đây ba bốn bữa rồi. Gần Tết thì chuyện trộm cắp ở bên nhà xảy ra thường xuyên lắm và như cô tôi nói thì hiện nay giá trị của một bộ lư tre chỉ chừng vài ba triệu đồng tiền Việt Nam. Số tiền đó so với cuộc sống bây giờ không phải là món tiền to tát nhưng đối với gia đình tôi thì đó là một mất mát lớn lao và vô giá bởi vì nó là của gia bảo do bà cố tôi để lại, là kỷ vật lưu dấu của gia phả về tình thương của bà đối với con cháu, người đã có công tạo dựng cho con cháu có được một cơ ngơi yên ấm, một mảnh đất dung thân nên trong lúc khốn khổ nhất mọi người vẫn cố gìn giữ suốt một thời gian dài.

Im lặng hồi lâu rồi tôi nghe tiếng cô tôi thở dài trong điện thoại. Tôi biết cô buồn lắm trước mất mát này và chắc chắn mọi người trong dòng họ cũng sẽ buồn như cô tôi bây giờ khi hay tin dữ. Riêng tôi cũng thẫn thờ xen lẫn tiếc nuối. Hình ảnh tôi lui cui ngồi chùi bộ lư mắt tre mỗi độ xuân về bên hiên nhà hơn ba mươi năm về trước vẫn còn in đậm trong tâm khảm. Lòng ngổn ngang như tơ vò, tôi chẳng biết nói sao hơn là dùng cái nguyên lý có không của nhà Phật để an ủi cô tôi. Tuy vậy tôi vẫn không tránh khỏi bâng khuâng, và tự nhủ lấy lòng “xem như của đi thay người thôi!” Vì dù sao vật gì mất đi cũng còn có thể tìm lại được chứ như con người mất đi thì lấy gì thay thế đây? Ý nghĩ ấy làm tôi liên tưởng tới sự ra đi của nhạc sĩ Huỳnh Anh, nhạc sĩ Việt Dzũng, nhà báo Cao Sơn và nữ danh ca Hà Thanh vừa qua. Buổi nói chuyện với cô tôi cuối cùng rồi cũng chấm dứt trong bầu không khí khá nặng nề.

Để điện thoại trở lại bàn xong tôi ra sofa ngồi mà đầu óc vẫn còn nghĩ ngợi miên man. Dẫu biết là “sinh lão bịnh tử, thành trụ hoại không” thì mọi sự vật trong cuộc đỡi này không có gì là vĩnh cửu nhưng trong những ngày vừa rồi nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại đột ngột giả từ cõi tạm này khiến cho người tôi bần thần, tiếc nuối và cộng đồng người Việt khắp nơi thì bàng hoàng đau xót, buồn nhiều hơn vui.

Mùa đông năm nay vốn đã trắng vì tuyết tràn ngập, phủ đầy khắp nơi, giờ lại thêm bạc thếch vì cơn lạnh kỷ lục. Suốt cả tháng trời qua tâm tư tôi cứ bứt rứt, khó chịu mà tôi không thể diễn tả được vì sao trước các mất mát trên. Tôi chưa gặp nhạc sĩ Huỳnh Anh bao giờ. Tôi chỉ găp Việt Dzũng một lần khi anh sang trại tị nạn Palawan và có một kỷ niêm nhỏ với anh thôi. Tôi cũng không biết nhà báo Cao Sơn vì khi ông tới tìm hiểu tình hình lập Làng Việt Nam bên trại tị nạn năm 1996 hoặc 1997 gì đó thì tôi đã rời trại đi Manila rồi. Nữ danh ca Hà Thanh thì tôi lại càng không có dịp hạnh ngộ nào nhưng tại sao tôi lại xốn xang trong lòng khi nghe tin họ từ trần? Tôi hiểu rằng dù tôi chưa gặp hay gặp họ không lâu nhưng các tác phẩm hay giọng ca của họ đã quen thuộc, mến yêu với tôi từ những ngày tôi còn rất nhỏ. Đó là lý do tôi buồn và cảm giác tổn thất này khiến tôi hụt hẫng, tạo nên một lỗ trống to lớn trong tôi.

Sáng nay cơn lạnh lại xuống cực thấp làm vạn vật bên ngoài chết cứng. Từ trong cửa sổ đứng nhìn ra con đường trước mặt, cảnh vật trắng toát một màu tang! Tận thâm tâm của niềm xúc cảm vô biên ấy, ngắm mọi thứ im lìm rất lâu tôi chợt nhận thức được cái vô thường của kiếp người. Vì có thể nó bình thường với những người khác nhưng lại hoàn toàn mới đối với tôi bởi cái căn nguyên, cái duyên nghiệp, cái giác tánh nguyên sơ và sau cùng là cái trình độ “ngộ” của mỗi người mỗi khác và không ai giống ai. Có sinh thì có tử! Tử để về một cõi khác rồi trở lại kiếp người nếu sống có đức độ ở kiếp này. Cái cõi khác đó chính là cái cõi Tịnh Độ trong thuyết luân hồi của nhà Phật vậy!

“Tâm thức chợt giác ngộ” khiến tôi thanh thản hơn, như người vừa cất được gánh nặng khỏi đôi vai và thấy lòng nhẹ tênh. Tôi hít một hơi thật dài đầy khoan khoái, đầu óc tỉnh táo hẳn ra khi thấu triệt cái lý lẽ của “sinh, trụ, hoại, diệt” rồi thầm cầu nguyện cho những người vừa khuất sớm về cõi Phật, nước Chúa. Nắng lên cao, xuyên qua các nhánh cây trụi lá, chiếu lên đống tuyết cao trước nhà dọi ánh dương quang lấp lánh. Hôm nay tuyết sẽ tan, ngày mai tuyết lại đổ xuống. Tuyết tan rồi tuyết lại tới. Đông sẽ tàn cho xuân qua trong sự tuần hoàn của vũ trụ, cho một khởi điểm bắt đầu trong kiếp luân hồi tái sinh có không, không có!

Miami Township, ngày 06 tháng 01 năm 2014

Triều Phong (TPN)

Ý kiến bạn đọc
04/02/201412:07:50
Khách
Tôi đọc bài "Bộ lư đồng mắt tre" rồi đọc báo Xuân VB với "Niềm đau ơi, ngủ yên" thấy của cùng tác giả Triều Phong thì mớ nhận thấy rằng cuộc đời của tác giả cũng nỗi trôi theo mệnh nước mà thương! Với bút pháp sâu sắc, tác giả đã trình bày chân thật nỗi cơ cực, bần hàn trong những năm tháng sống nhọc nhằn nơi trại tị nạn làm tôi thấy lại hình ảnh tôi trong đó. Cám ơn tác giả đã làm sống lại các kỷ niệm buồn vui ngày xưa của tôi vì chỉ có "đoạn trường ai có qua cầu mới hay!"
27/01/201414:22:00
Khách
Mượn chuyện mất bộ lư tre bên nhà ở Việt Nam để chuyên chở cái vô thường của kiếp người, sự luân hồi của thuyết nhà Phật để kêu gọi mọi người ở hiền sẽ găp lành, tác giả quả thật là tài tình trong việc dẫn dắt độc giả. Chỉ vài dòng ngắn ngủi tác giả đã vẽ lại bức tranh xã hội Việt Nam đói rách vào những năm tháng sau 1975 do chính sách cai trị ngu dốt của Cộng Sản Việt Nam một cách thật tuyệt vời. Rất mong đọc thêm các truyện khác của tác giả. Cám ơn.
23/01/201408:00:00
Khách
Quá hay! Truyện tuy ngắn nhưng vô cùng súc tích, nội dung chuyển tải được nguyên lý vô thường của con người theo thuyết nhà Phật. Văn phong đơn sơ, mộc mạc, xuất phát từ tấm lòng.
22/01/201408:00:00
Khách
Tác giả viết rất sâu sắc, tình cảm quá!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 806,787,547
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Khanh con gái bà chị họ của tôi, sinh năm Nhâm Tý xuân này tròn 48 tuổi, ông bà mình bảo, Nam Nhâm, Nữ Quý bảnh nhất thiên hạ. Mẹ nó tuổi Quý Tỵ, khổ như trâu, một đời vất vả gánh vác chồng con, con bé tuổi Nhâm mạnh mẽ như con trai nhờ ông ngoại hun đúc từ tấm bé.
Nhìn hai cây sồi cổ thụ ngoài ngõ cũng đủ biết căn nhà đã trả hết nợ từ lâu. Hai cái xe Cadillac của người già không lên tiếng nhưng nói biết bao điều về nước Mỹ. Khi còn trẻ thì người ta không có tiền để mua những cái xe đắt tiền như Cadillac, Lincoln. Những cô cậu thanh niên mắt sáng, chân vững tay nhanh, chỉ đứng nhìn theo những chiếc xe bóng loáng, mạnh mẽ…
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả
Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa Sau đây là bài viết mới nhất của Ông nhân ngày lễ Tạ ơn
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi, thấy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7/2018, với bài “Thời Gian Ơn, Ngừng Lại”. Tên thật: Nguyễn Thị Kỳ, Bút hiệu: duyenky. Trước 30.4.1975: giáo viên Toán Lý Hoa-Tư thục-Saigon-VN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.