Hôm nay,  

50 Năm, Sàigòn - Hoa Kỳ

30/04/202500:00:00(Xem: 3834)
xuan 2025 50 năm nghiêng
50 năm nhìn lại... (hình do TG cung cấp)

1975.

Tháng Tư, thị trấn Sparks, tiểu bang Nevada.

Ba chị em ngồi dán mắt trước cái tivi đài Mỹ đang chiếu tin tức thời sự. Màn hình hiện lên bản đồ hình chữ S có tên của ba thủ đô Hà Nội - Huế - Sài Gòn.

Đường vĩ tuyến 17, chia cắt hai miền Bắc Nam rõ rệt.

Bắt đầu từ Tháng Hai  năm 1975 tôi đã theo dõi tin tức Việt Nam nhiều hơn, khi chiến trận giữa Bắc Nam ngày càng sôi động, cũng nhờ mấy bài báo cắt ra do Ngọc Anh em tôi gởi qua. Họ đưa hình bản đồ chữ S lên, Miền Bắc sơn màu đỏ, rồi màu đỏ vượt khỏi vĩ tuyến 17 tràn xuống Miền Nam.

Màu đỏ lan xuống tới đâu, tôi rớt nước mắt tới đó.

1975 báo  Việt
1975, Báo Việt (hình do TG cung cấp)
Tin tức nói hàng ngày, các chiến hạm Hoa Kỳ đang di chuyển ngoài khơi, ai ra được họ sẽ vớt. 

Gia đình bên chồng chị tôi và chồng tôi cùng làm giấy tờ bảo lãnh có sự bảo đảm việc làm của hãng may cho Má và bốn đứa em còn lại để qua Mỹ, kèm thêm điện tín, biểu ráng làm sao tìm đường ra biển để thoát khỏi Việt Nam vì nghe nói cộng sản mà chiếm được Sài Gòn thì họ sẽ thẳng tay sát hại những ai có liên hệ với Mỹ.
Tôi theo chồng qua Mỹ lần đầu vào cuối năm 1970. Tháng Hai năm 1973, sau khi hiệp ước đình chiến được ký kết giữa bốn bên là Việt Nam Cộng Hòa, Giải Phóng Miền Nam, Bắc Việt và Hoa Kỳ, chúng tôi bay về Việt Nam liền.

Đại gia đình sống trong vui vẻ sum họp khi chồng tôi làm việc tại căn cứ Hải Quân ở Vịnh Cam Ranh. Cuối năm 1974 chúng tôi phải trở lại Mỹ, đem theo hai đứa em gái là Hoàng Thư và Thúy Phương.

50 năm sau, nhỏ em Kim Loan kể lại phần này:

“Má nhận được điện tín và giấy tờ bảo lãnh mà làm sao ra biển được, may sao, một buổi chiều, anh Ngà bạn Ngọc Anh là lính Không Quân làm việc  ở phi trường Tân Sơn Nhứt ghé thăm. Ảnh nói hiện nay mỗi ngày có xe buýt lớn tới liên tục trước tòa đại sứ Mỹ để rước người Mỹ và thân nhân, hoặc nhân viên làm việc cho sở Mỹ, vô phi trường TSN để làm thủ tục đi qua Mỹ bằng đường hàng không, nếu gia đình mình muốn đi thì sáng sớm ra đó sắp hàng theo người ta vô phi trường. Má nghe vậy quyết định tức khắc. Má gom hết tiền thủ để dành, chia cho mỗi đứa một ít để rủi ro có lạc nhau thì có tiền mà ăn. Mà lạc nhau thiệt. Tiền đã chia, má dặn mỗi đứa soạn một túi xách tay đem theo hai bộ quần áo, vài giấy tờ quan trọng như căn cước, khai sanh, vài vật dụng cá nhân, hình ảnh vv… Má chạy qua nhà chị họ kế bên là chế T., nhờ săn sóc con chó đừng để người ta bắt làm thịt tội nghiệp.

5 giờ sáng hôm sau mấy mẹ con ra đường kêu chiếc xích lô máy chở hết năm người.  Buồn đứt ruột nhứt là con chó thương yêu chạy theo chiếc xích lô một khoảng đường xa mới mất hút.

Ra tới tòa Đại Sứ thấy một hàng dài người xếp hàng để đợi xe buýt. Người Mỹ với vợ Việt và thân nhân thì ít mà đa số người Việt làm cho sở Mỹ thì nhiều. Mấy mẹ con đi theo người ta. Ba đứa được lên trước nhưng tới Má với Phượng thì lại bị một người Mỹ to con đứng chận nguyên cánh tay cho thân nhân ổng lên hết là hết chỗ, má với Phượng bị lọt lại.

Tui, NA và Long leo lên xe trước, quá lo lắng vì vụ Má bị kẹt lại này.

Vô phi trường rồi, mấy chị em đi lòng vòng mới thấy một khu vực có nhiều người đứng đợi, thì ra chỗ này có máy nước người ta đang giặt giũ, tắm rửa… Có lẽ chỗ này lúc trước là khu vực trống để rửa xe? May mắn cho những người đã tới đây vài ngày trước cần nước để xài và tiếp tục chờ. Nhìn qua lại xa hơn chút lại thấy thiên hạ lu bu ngay hàng rào kẽm gai, kẻ trong người ngoài, người ở ngoài đưa đồ ăn vô bán cho người ở trong, nào là bánh mì, xôi, đa số là bánh mì ổ dài. Đang còn lẩn quẩn nhìn thì tình cờ thấy có một lỗ hổng ngay gần đó có thể một người nhỏ nhỏ chui ra chui vô được. Chắc có ai đó cắt chút hàng rào để ra vô buôn bán? Mừng quá nói với NA là tui sẽ ra bằng lỗ này và cũng chui trở vô bằng chỗ này. Tui hẹn gặp nhau tại chỗ người ta đang tụ tập xài nước. Vậy là NA và Long phải canh chừng cả tui và má với Phượng.

Chà cái lỗ này nhỏ hơi vướng víu quần áo nhe, nhưng coi như qua lọt cái vù. Vừa ra khỏi thì nghe tiếng anh xe ôm hỏi “Đi xe hông cô?” Tui nhìn anh ta thấy hơi sợ gì gì đó vì chưa bao giờ đi xe ôm. Rồi ôm ở đâu ta? Dự tính là sẽ kiếm xe xích lô đi nhưng nhìn anh thấy anh mời tội nghiệp nên tui mới nói “Anh chở tui tới đó rồi anh đợi tui chạy vô chút tui trở ra anh chở tui trở lại đây nha.”

Tới nơi chạy cái vù vô nhà thấy Dượng Bảy ngồi đó tui mới giải thích cho dượng biết chuyện đã xảy ra.  Dượng hơi suy nghĩ chút rồi nói “Con trở vô đó liền, nếu đi được thì cứ đi chừng nào má con có trở về thì tính tiếp.”

Chạy trở ra anh xe ôm còn ngồi đợi. Tui lại chui lọt trở vô cái lỗ cũ thì hay tin Má vô được trong phi trường rồi. Mừng hết lớn! “

Má kể:  

- Bị lọt lại, Má hồi hộp quá không biết có còn chuyến nào nữa không hay kẹt luôn rồi. May mắn có chuyến kế, Má với Phượng tới được phi trường nhưng lúc đó họ đóng cổng không cho ai vô ra nữa, Má sợ quá cứ đứng đó chưa biết tính sao thì không ngờ dịp may lại tới lần nữa, thấy chiếc xe hơi lớn màu đen ngừng ngay cổng chỗ má đứng, bà tài xế quay cửa xuống hỏi Má làm gì đây? Thì ra là bác Cúc gái hàng xóm. Bác là tài xế lái xe cho sở Mỹ nhiều năm nay, bác chở mấy người sếp Mỹ đi làm ra vô TSN mỗi ngày cho nên thấy xe là họ mở cổng. Bác nói hai mẹ con lên xe bác chở vô. Vậy là tất cả đều vào được trong phi trường rất đông người.

Sau cả ngày hai chị em cầm xấp hồ sơ sắp hàng nhiều lần không đúng chỗ, rồi hỏi han người xung quanh cuối cùng mới biết phòng này là chỗ cuối cùng để xin ghi tên vô chuyến bay.  Ngoài trời tối lắm mà chỉ có hai chị em ngồi trên băng gỗ đợi. Đây là cửa sau của phòng đó, hy vọng cuối cùng rồi. Không biết đợi bao lâu trong đầu cứ nghĩ có đợi tới sáng cũng vẫn đợi mặc dù cả ngày quá mệt mỏi nhưng mắt vẫn canh chừng. Phía trong phòng đèn còn sáng trưng nghĩa là người ta vẫn còn đang làm việc. Nghe người ta nói lúc này họ làm việc 24/24.

Gần như thất vọng hoàn toàn thì tự nhiên thấy cửa mở có người Mỹ bước ra. Y mặc áo thun trắng sát nách mặt đầy mồ hôi, hình như muốn ra hít thở không khí bên ngoài. Thấy hai đứa con gái ngồi đợi, y hỏi vài câu mình không biết trả lời, chỉ đưa xấp hồ sơ, y  kêu hai đứa theo vô văn phòng. Coi giấy tờ xong y hỏi bao nhiêu người đi, tui nói năm người rồi chỉ tên 5 người trên hồ sơ, y ghi gì đó trên xấp giấy tờ.  Số hồ sơ là 193, rồi ghi lên miếng giấy nhỏ dặn dò ngày mai đứng xếp hàng chỗ đó đó với tờ giấy nhỏ này có giờ xếp hàng lên máy bay, từ 8 tới 10 giờ sáng. Mừng hết biết, chạy về cho Má hay. Má nói liền - Ba con phù hộ mẹ con mình đó!

Tới bây giờ tui vẫn nghĩ sao lúc đó lại ngồi đợi ở cửa sau? Tại sao không biết kiếm cửa trước mà đợi? Chắc nhờ vậy mà gặp hên hay đúng là Ba khiến ta?
Sáng sớm hôm sau đoàn người xếp hàng một dọc ngoài trời nắng, có hai hàng lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ bồng súng đứng canh. Chiếc máy bay đậu đàng kia. Sau này mới biết đó là loại máy bay C-130.

Hơn hai tiếng đồng hồ. Đang đợi thì có một chiếc xe jeep chạy ào tới, người lính Mỹ lái xe jeep. Hai bên nói chuyện qua lại lâu lắm, giống như đang điều đình gì đó. Nghe nói, mới biết, người trên xe jeep muốn mấy người thanh niên tuổi lính phải ở lại để chống giặc. Như vậy có nghĩa là thằng em mình không được đi. Ai nấy lo sợ run muốn chết. Nhưng sau đó, điều đình xong, họ cho hết lên phi cơ.

Người lên đầy là họ đóng cửa bay liền. Họ cho lên lẹ lắm. Thủy Quân Lục Chiến bồng súng chĩa ra ngoài. Mấy mẹ con ngồi dưới sàn, sau cùng, sát cửa. Vừa sợ vừa mừng, mà mừng nhiều hơn vì chiều tối hôm đó phi trường bị Việt cộng pháo kích quá trời luôn.

Từ Việt Nam bay qua Phi, đáp xuống phi trường quân sự Subic Bay. Ở đó vài tiếng để chích ngừa xong mới vô nước Mỹ là Hawaii.

Từ Hawaii bay thẳng qua đảo Wake Island (hình như là đảo quân sự).

Ở hai ngày đêm, mới bay qua California. Chỗ này, lên bay một chút thì bay ngược trở lại ngừng sửa vì trục trặc gì đó làm ai cũng lo sợ muốn chết! Đến nơi rồi xe buýt chở tới Camp Pendleton. 

Chỉ hai ngày trên đảo đã thấy lòng tử tế và sự chăm sóc chu đáo của những người lính Mỹ, từ giường gối khăn mền cho tới cái băng vệ sinh cho phụ nữ.”

Ôi, những con người văn minh đáng kính.

Má với mấy em bước vô phi trường TSN sáng ngày 25 tháng Tư, bay khỏi trưa ngày 27 tháng Tư năm 1975.

Một số trục trặc nhỏ trên đường có là gì, so với những thảm cảnh và mất mát của bao nhiêu vạn người đã gặp trên đường vượt biên, thuyền nhân hay đường bộ, những năm dài sau đó.
 …
Trên đất nước Hoa Kỳ.

Khi gần như tuyệt vọng sẽ không bao giờ gặp nhau nữa, vào nửa đêm 29 Tháng Tư chúng tôi nhận được điện thoại của em Long cho hay gia đình được cầu không vận Hoa Kỳ bốc đi, đang đợi làm giấy tờ ở Hawaii, rồi chưa biết đi đâu.

Sau khi chồng tôi liên lạc hỏi tin, biết chắc nhóm người đó sẽ tới  Camp Pendleton, chúng tôi tới đón Má và bốn đứa em về Sparks, tiểu bang Nevada.

Hai hôm sau, tháng Năm, có đài truyền hình Eyewitness News tới quay phim phỏng vấn, giống như một cách báo cho dân bản xứ biết về gia đình Má và mấy em là gia đình Việt Nam  tị nạn cộng sản, đầu tiên, tới thành phố này. Báo chí cũng đưa tin, tôi còn giữ mẫu tin đó, tiếc quá, lúc đó đâu biết cách để xin copy của đoạn phim họ quay cảnh cái nhà chỉ có một phòng ngủ mà chứa tới 11 người.
May-1975 RENO new paper
Tháng 5, 1975- bản tin trên Reno newspaper (hình do TG cung cấp)

Tuần sau nữa, họ tới tận hãng may để chụp hình quay phim Má tôi ngồi may, đưa vô tin tức, cho dân chúng biết, những người tị nạn mới sang đã có việc làm.

Thiệt là nhớ thời gian đó sao mà vui mừng hạnh phúc quá. Nhà có 6 người cùng làm chung một hãng, có khi làm từ sáng tới chiều, có khi làm thêm giờ, thì tới tối hù, ghé chợ mua hai con gà giá 99 cents mỗi con bự tổ chảng, rau cải, về luộc ăn mà sao ngon hết biết. Đó là thời gian ra khỏi nhà khi trời còn tối, về nhà thì trời cũng đã tối rồi, không thấy cái nhà mình ở sơn màu gì nữa.

ĐỖ THỊ BÔNG với máy may Tháng 5 Năm 1975
Má Đỗ Thị Bông với chiếc máy may-tháng 5, 1975 (hình do TG cung cấp)
Năm đầu, cả nhà, làm ngày làm đêm. Bán chiếc Pontiac “bù ệt” hai cửa bốn chỗ ngồi, mua chiếc xe van cũ, mới chở hết mọi người. Má và ba đứa em lớn đi làm, Phượng, Thư, Thúy còn nhỏ thì đi học, con tôi, mướn bà Mỹ tới nhà giữ trẻ. Tôi nhớ bà lắm, người rất hiền lành, thương con nít.

Năm 1976, tôi sanh đứa thứ ba. Mười hai người sống chung một nhà. Sau vài tháng, làm được bao nhiêu thì hùn vô, đổi chiếc xe van, mua hai chiếc xe hơi Chevy Oldsmobile mới tinh, thêm chiếc Honda cho em trai tôi, nó sơn lá cờ vàng ba sọc đỏ trên mui xe. Đi tới đâu thiên hạ dòm theo tới đó. Mấy đứa em biết lái xe, tự tin hơn.
...
Nhiều năm sau, qua vài tiểu bang, đổi vài chỗ làm việc, thay chỗ ở mười một lần.

Tôi đã nhìn thấy sự thăng trầm của nước Mỹ:  - từ hồi lương căn bản chưa tới 2 đô la một giờ, ngồi may kiểu “ăn miếng”cả ngày;  “ăn miếng” nghĩa là sau khi may đủ số ấn định, nếu may thêm miếng nào được trả tiền thêm miếng đó. Kim Loan và Ngọc Anh, may giỏi nhứt hãng, lúc nào lương cũng cao hơn người ta - tới năm nay, 2025, là từ 20 tới 25 đô la một giờ, tùy việc tùy công ty hãng xưởng.

Tôi đã từng làm nhân công dọn dẹp ở motel, làm thợ may, làm trợ lý văn phòng cho chồng tôi, đi học nghề, làm giảng viên trường thẩm mỹ và sau cùng làm giám khảo chấm thi cho Hội Đồng Thẩm Mỹ, tiểu bang California, 25 năm.

Tôi có bạn đồng nghiệp, có những học viên, đến từ nhiều nước trên thế giới.

Tôi chứng kiến đời sống của dân bản xứ, nghèo giàu như thế nào, sự thành kiến, óc kỳ thị, màu da, chính trị, tôn giáo, ra sao.  
Tôi đã thấy người có mái nhà để chui ra chui vô, cũng có những thân phận thiếu may mắn, sống tạm bợ trong mấy cái lều rách, hay nằm ngồi vật vạ trên lề đường, dưới gầm cầu.

Ngày xưa dân Da Đỏ dựng lều “Tippy” để sống là theo phong tục tập quán, ngày nay cái lều tạm bợ vá víu là vì không có cái nhà để ở, nay, dân vô gia cư vì bao nhiêu lý do, thất thế, mất việc, rượu chè, ma túy, hay tâm thần?

Tôi đã từng sống trong khu nhà lợi tức thấp, thiếu thốn tiện nghi, đôi khi không có gì ăn. Và cũng đã sống trong ngôi nhà khang trang vững chắc.
Nhà cửa thời 1975, ở Reno, Nevada, một căn nhà có sân trước sân sau rộng rãi, 3 phòng ngủ hai nhà tắm như nhà tôi mua trong một khu tương đối an toàn dễ hòa nhập, chỉ trên 35 ngàn đô la thôi. Bây giờ nghe nói căn nhà đó cả triệu rồi.

Tôi đã chứng kiến cảnh “biển dâu” tại California. Chúng ta đã biến những khu vườn cam rẫy dâu trở thành một Tiểu Sài Gòn trù phú. Trên dưới hai triệu dân tị nạn đem quê hương thứ nhứt trồng vào quê hương thứ hai.

Tôi đã từng phất cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tình chống cộng. Và cũng rửa mắt, nhìn từng đàn người cộng sản nhởn nhơ trên phố.

Chúng tôi rất biết ơn, nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới tự do, đã bao dung, nhân đạo, mở  rộng vòng tay ra cứu vớt, “thuyền nhân” lúc đó như những dề lục bình dập dình trên biển cả hãi hùng. Họ đón số người di dân tiên phong, bằng đường biển hay đường bộ, thoát chế độ cộng sản, và cũng đau buồn khi hàng trăm ngàn người, bằng cách này cách khác, đã vùi thây trên con đường tị nạn.

Thời còn trẻ của chúng tôi, từ giữa thập niên 70, 80, 90, 2000, sức làm việc, lòng nhiệt huyết muốn thay đổi đời sống cho khá hơn, rất cao. Sống trên đất người, muốn bằng người bản xứ thì chúng tôi phải làm việc như gấp đôi. Chúng ta xử dụng máy móc đi đôi với sức con người. Dùng sức lực điều khiển cơ khí nhưng không lệ thuộc. Luôn kiên nhẫn học hỏi, giỏi đáp ứng, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, bằng trí óc quân bình, từ trường học hay trường đời.

Tôi đã thấy bao thất bại và thành công trên mọi phương diện. Mà cũng thấy, đã có bao nhiêu nhân tài đóng góp cho nước Mỹ, tạo nên một thành phần ưu tú trong đủ mọi ngành nghề.

Vậy mà, có thành công được sự nể phục, có thất bại gây nhiều tai tiếng.

Thế hệ trẻ ngày nay, nhân trí rất cao, giỏi, nhưng, hình như lệ thuộc vô khoa học, kỹ nghệ tân tiến nhiều hơn.

Con cháu chúng ta được sống trong nước Mỹ, thế giới tự do, chế độ đa đảng.

Có khi, hai người ở hai đầu con sông Tương. Ở giữa, làm sao để chiếc cầu không gãy nhịp?

Từ Việt Nam sang đến Hoa Kỳ. Mong mỏi có người tài đức, đứng mũi chịu sào, đẩy lui cái đám người xảo quyệt gian manh.
Khi muốn sửa sang một cái nhà cũ, hư hại, thì phải xem xét, thay thế những mụt nát bằng những lành lặn. Vẫn biết những sự thay đổi bây giờ là chuyện khó như lấp biển vá trời nhưng, nếu không cố gắng khởi sự bây giờ thì thế hệ con cháu chúng ta, suốt ngày cắm đầu vô cái điện thoại, không đứng lên chống đối, ngại ra sức lao động để làm việc, rồi sẽ bị lệ thuộc dưới sự thống trị của quân tham gian cuồng bạo, là điều hiển nhiên.
---
Sài Gòn mất, cũng gần như lần lần mất đi sự trong sáng của chữ Việt, tiếng Việt.

Hy vọng giữ gìn tiếng Việt của thời Việt Nam Cộng Hòa, Giải Thưởng Viết Về Nước Mỹ do tờ Việt Báo thành lập từ năm 2000, được sự hưởng ứng mạnh mẽ của công chúng.

Nhiều năm trôi qua, từ xã hội tới gia đình, theo luật Sinh Lão Bịnh Tử, có nhiều mất mát đau lòng.

Chúng tôi đã mất ba vị, nhà văn/ giám khảo Thảo Trường, nhà văn/nhà báo/giám khảo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà văn Bồ Tùng Ma và ba tác giả cao tuổi, người đầu tiên tham dự Viết Về Nước Mỹ là cụ Nguyễn Gia Mai, bà Trùng Quang và Má tôi, Đỗ Thị Bông.

Năm 98 tuổi, Má tôi đã đi tìm Ba dưới đáy Biển Đông.

Em trai tôi tới miền hư vô khi tuổi chưa già, còn có thể làm bao nhiêu chuyện.

Tôi mất chồng. Phu thê giống như cái nồi vừa với cái nắp, nồi mất nắp thì nấu gì cho ngon? Như đũa có đôi, mất một chiếc thì lùa cơm cả ngày chưa hết chén.

Còn chúng ta, cũng đang kẻ trước người sau, tới trạm cuối cùng.

Và mặt trời vẫn mọc ban ngày, trăng sao vẫn sáng ban đêm.

2025.

Là năm đánh dấu nửa thế kỷ từ khi Miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm.

Tôi cám ơn, ngày xưa em Ngà đã cho tin, cám ơn bác Cúc đã chở Má và các em tôi qua  cổng phi trường, cùng quyết định dũng cảm chớp nhoáng của Má tôi, đem con qua Mỹ dù không biết một tiếng Anh, tương lai mịt mù, hồi cuối Tháng Tư năm 1975.

Và, 50 năm dài đằng đẵng trôi qua, vẫn còn có những người đang khóc mà lệ không rơi ra khỏi trái tim mình./.

Trương Ngọc Bảo Xuân
Ngày 27 Tháng 4 Năm 2025
 

Ý kiến bạn đọc
30/04/202522:13:04
Khách
Cảm ơn Tác giả chia sẻ bài viết, chúc Cô nhiều sức khỏe và viết thêm nhiều bài nữa.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 501,768
Thật khó ngờ rằng, bước vào tuổi nghỉ hưu, tôi vẫn còn dịp lo liệu cho tuổi già của bố mẹ. Chính trong những ngày ấy, tôi bắt đầu nghĩ về tuổi già, không của ai khác mà của chính mình. Khi va chạm với thực tế, tôi thấy hình bóng tương lai của mình trong từng chi tiết nhỏ: nào khó khăn lúc bước vào trong xe, nào không thể tự mặc cho mình manh quần tấm áo. Tôi là con cả trong một gia tộc đông anh em. Dù đã sống trên đất Mỹ lâu hơn khoảng gần ba mươi năm so với thời gian tôi từng sinh sống ở quê nhà, tôi vẫn giữ lối nghĩ của người Việt: phận làm con là phải chăm sóc cha mẹ lúc xế chiều, như một phần máu thịt, chẳng cần ai nhắc. Có lúc đứng một mình, tôi tự hỏi rằng đã sẵn sàng cho vai trò đó đến đâu, và câu trả lời luôn dẫn tôi về với trách nhiệm không thể thoái thác. Dẫu tôi có đến bảy đứa em và mấy chục đứa cháu, tôi vẫn coi phần chính của bổn phận ấy thuộc về mình.
Căng Thẳng! Hôm nay thiệt tình căng thẳng quá! Trường lớp đã tan. Một trăm mười một ông thầy Papua New Guinea (PNG) đã lục tục kéo nhau về nhà, nghỉ lễ gần ba tuần rồi. Nhưng văn phòng ông giáo vẫn mở cửa từ sáng sớm đến đêm khuya, bởi chấm điểm thi, cộng điểm các lớp, lên bảng điểm để gửi về các đấng bậc của mười một địa phận trên toàn quốc. Trong khi thiên hạ tà tà đi chơi khắp nơi, ăn khoai lang heo nướng, uống bia SP địa phương, bụng ai nấy tròn vo, thì đèn trong phòng ông giáo vẫn sáng. Ông vẫn ăn khoai, vẫn khù khụ ho lao, vẫn cặm cụi bút đỏ chấm chấm gạch gạch bài luận, vẫn cộng điểm, vẫn bạc mái tóc, vẫn mình hạc xương mai. Trời PNG cuối năm lại mưa bão liên miên. Mưa biến con đường chạy bộ thành bùn lầy, thế là mặt mũi ông giáo chương to như con bò chết sình hơn ba ngày nằm bên vệ đường. Căng thẳng đủ điều, nhưng ông giáo vẫn không quên lễ Tạ Ơn, Thanksgiving 2025.
Tôi đến với “Viết Về Nước Mỹ “muộn màng, khi tóc đã điểm bạc, khi đã đi quá nửa đời người và khi trái tim tưởng chừng như đã chai mòn trong cuộc sống bận rộn, bôn ba nơi xứ người. Thế mà chính nơi đất khách này, giữa những mùa thu lá rụng của Silicon Valley, tôi lại tìm thấy một lối đi mới - con đường của chữ nghĩa, của ký ức, của hoài niệm và của những điều không thể nào quên.
Cuối tuần vừa rồi, gia đình tôi lại đưa cậu con trai trở về khuôn viên Đại học James Madison, sau gần một tuần nghỉ lễ mùa thu. Con đường I-64 hướng Tây vẫn đẹp như thuở nào. Những triền đồi nhuộm vàng, đỏ, cam… đủ mọi sắc lá của buổi đầu thu, rực rỡ và lãng đãng trong nắng dịu. Tôi vẫn yêu con đường này, như đã yêu từ lần đầu khi đi qua, cách đây đã hai mươi sáu năm. Ký ức bỗng ùa về như gió thu chạm khẽ vai áo. Hồi đó, tôi chỉ là một cậu sinh viên năm thứ hai xa nhà. Cũng vào một kỳ nghỉ lễ, anh bạn Mai Thọ Triều rủ tôi về nhà anh ở Roanoke chơi. Đó là lần đầu tiên tôi biết đến cung đường I-64W rồi I-81S, và cũng là lần đầu tiên tôi đến Roanoke. Từ dạo ấy, tôi yêu thành phố nhỏ nằm giữa lòng núi ấy, và đã từng viết về nó trong bài tùy bút "Roanoke, (Virginia) và Buổi Chiều Gió Lộng."
Cứ đến gần cuối năm thì hầu hết nhân viên sở làm nào cũng đều thi nhau bứt tóc bứt tai viết ra “chỉ tiêu” cho năm mới, chúng phải hấp dẫn hơn năm cũ, và phải khớp với dự án phát triển của công ty. Mỗi người mình khi sang tuổi mới chắc cũng làm tương tự: sẽ lên danh sách cho mình vài “món quà” để cố gắng đạt đến. Thêm một chiếc xe hay thêm một cái nhà? Nhẹ nhàng hơn là tập thêm một môn thể thao nào đó hoặc bỏ đi một thói quen không còn thích hợp? Giỏi hơn nữa là bớt ăn đường, bớt ăn mỡ, hoặc bớt đi shopping, bớt đi happy hour? Tập sống lành mạnh hơn, tập tiết kiệm…Hồi tháng trước, tôi đã thực hiện được mong ước viếng thăm Bhutan, đất nước nơi sự giàu mạnh được đo bằng chỉ số hạnh phúc của người dân. Sau một tuần thăm viếng những địa điểm đặc trưng và quan sát đời sống và văn hóa của người dân Bhutan,… tôi sang thăm Ấn Độ. Nơi đây vì sự phân chia giai cấp vẫn còn triệt để nên số lượng người nghèo khó và bệnh tật khá lớn, mạng sống thấy nhẹ như rơm…
Mùa hè nóng nực đã qua, mùa thu đến mang theo thời tiết ôn hòa mát mẻ khắp nơi. Tuy nhiên khí hậu tại các tiểu bang Hoa Kỳ không hoàn toàn giống nhau. Có nơi lạnh, lá cây thay màu từ xanh thành vàng cam hay đỏ. Nơi nào lạnh ít lá hãy còn xanh. Lá cây trên vùng núi thay màu sớm hơn ở các đô thị. Tại Vùng Fairfax, Virginia lá hãy còn xanh và tại Canada phần lớn lá đã thay màu. Các bạn bàn nhau từ mấy tháng trước, rủ đi Canada bằng du thuyền xem lá vàng, thật ra là để đổi không khí trong 10 ngày. Cả năm qua các bạn chưa đi xa. Trước kia khi mới nghỉ hưu các bạn thường đi viếng thăm nơi này nơi nọ bằng du thuyền, không đi đường bộ vì ngại chờ đợi ở phi trường đông đảo. Là những người cao niên, họp mặt được lúc nào thì vui lúc ấy. Chẳng biết ai sẽ ra đi trước và không bao giờ trở lại chỉ để thương nhớ cho người thân. Điều đó bình thường như lá vàng rơi rụng vào mùa thu.
Suốt tuần ni, bắt đầu từ ngày 27 tháng 10 đến chừ, tôi chỉ muốn lên mạng nhìn hình ảnh Huế lũ lụt và gọi điện thoại người chị tên Giang, nhưng rất khó khăn vì nhà bị cúp điện. Tôi nghe chị kể: Sau khi tôi gởi số tiền từ cô em chồng tên Tịnh Tâm cùng mấy chị em hùn phước về BS Đặng Nga và nhóm chị Nhuỵ (NTN) nhờ giúp bão lụt. Chị tôi đã đến nhà chị Nhuỵ và nhóm sắp xếp tiền vào phong bì 200k, bỏ sẵn sàng mỗi bao gồm bịch gạo 10 ký, thùng mì gói và vài thứ khác. Nhóm đã thuê xe và chuẩn bị lên đường vào ngày thứ hai 27 tháng 10 (đầu tuần) về làng Phong Điền tổ chức phát quà tại Chùa. Không ngờ tối đó mưa bão, đài loan báo tin tức hôm sau lụt sẽ vào Huế. Cả nhóm cancel chuyến đi thì trưa ngày đó nước vào nhà. Mức nước chảy cuồn cuộn lên thật nhanh cho đến tối. Cháu trai tôi bước xuống nhà nước ngập ngang cổ, còn những nhà thấp hơn thì xem như lấp đến mái nhà.
Đất trời Arizona giữa tháng 9 vẫn như một chảo lửa. Ông trời dường như đang mê tu luyện môn “Cửu Dương Thần Công”, phóng hỏa lực ba con số xuống cõi hồng trần. Bầu trời xanh lơ mà mặt trời như ngủ quên, vẫn đều đều rải xuống trần gian cái nắng nóng đến nhão cả người, vạn vật như chảy ra thành một chất lỏng đặc sánh; con người rũ rượi, nhễ nhãi mồ hôi, hằng ngày vật vã bên cái máy “ây-xi” ráng sống sót, mong hạ đi, đón thu về. Nhóm Bút Tre bèn quyết định chạy trốn lên vùng cao, lên tận Hoàng Thạch Sơn, tức Núi Đá vàng, Yellowstone National Park.
Các con của tôi đều học trường Tiểu Học Công Lập miễn phí của chính phủ, lên trung học hai đứa đều học trường tư Albert Demin của giáo hội Công Giáo tại thành phố Nogent sur Marne, bên cạnh Le Perreux Sur Marne nhà của chúng tôi an cư từ năm 1997. Hai nhóc của tôi bắt đầu học tiếng Anh từ lớp Sáu, đến lúc thi tú tài hai đứa đã rành tiếng Anh cả hai đậu tú tài hạng ưu (mention Bien). Sau khi đậu tú tài, Duy Hải (DH) học khóa dự bị hai năm (classe préparatoire) chuyên toán, Lý, Hóa nếu không thi rớt mới được ghi danh thi tuyển vào các Đại Học lớn của Pháp (Grande Ecole) mỗi năm chỉ nhận vài trăm sinh viên thôi. Học sinh đã qua lớp chuyên toán điểm toán, lý, hóa xê xích nhau vài điểm thôi, để lọt vào vòng chung kết thí sinh phải làm bài luận văn (Dissertation) và thi tiếng Anh.
Năm 2025, người Việt gốc Mỹ kỷ niệm 50 năm định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng sẽ có thêm một kỷ niệm định cư tại Seattle được nửa thế kỷ. Nửa thế kỷ đã qua, những người đến sau, những người mới qua, không tưởng tượng được mọi chuyện đã có thể thay đổi như ngày hôm nay: Một “Việt Nam Mới”. Bây giờ, tiệm ăn, siêu thị bán đầy đủ thực phẩm Việt Nam không thiếu, sẵn sàng tại các khu người Việt. Trong các Mall, giữa các sắc dân đông đúc luôn luôn nghe được một giọng lạ nổi lên nhưng lại rất quen thuộc thì chắc là có người Việt trong đám đó rồi. Hồi những năm 1975, 76, cố tìm một chai nước mắm cũng khó. Cả thành phố chỉ có một tiệm tạp hóa Tầu nhỏ. Thế mà chỉ mười mấy năm sau khi có làn sóng vượt biển, những người “boat people” đã đến, và họ đã làm nên lịch sử những “Little Saigon”, tôi tin tưởng như thế. Chúng ta hãy cám ơn họ.
Nhạc sĩ Cung Tiến