Trang Nhật Ký Của Một Sinh Viên Già Tỵ Nạn

07/04/202000:00:00(Xem: 2639)


Dương Chi

Tác giả lần đầu tham dự chương trình VVNM. Tên thật là Dương Hồng Chi, sinh năm 1940 tại Hà Nội, tốt nghiệp: Sư Phạm Saigon ở Việt Nam, Ban Cử Nhân ở Mỹ, hiện nghỉ hưu, sống ở Slidell, Tiểu bang Louisiana.


***


Ngày.....Tháng....Năm....


     “Trời ơi! Tôi trễ chuyến buýt rồi!” Tôi than khi nhìn thấy chiếc buýt cho người hành khách cuối cùng bước lên, rồi từ từ rời trạm. Sợ trễ giờ học, tôi cố gắng chạy theo. Chiếc túi chứa đầy sách mang nặng trên lưng làm tôi trợt chân. Ngã nằm xoài trên vỉa hè. Nhưng tôi cố gắng lồm cồm ngồi dậy, đứng lên, chạy tiếp. Hình như bác tài thấy tôi chạy theo xe và trợt chân ngã trên vỉa hè. Chắc hẳn bác cảm thấy tội nghiệp cho tôi. Nên đến ngã tư đèn đỏ, bác ngưng xe lại và mở cửa cho tôi lên.

     Ngồi trên xe, lúc đó tôi mới cảm thấy thấm mệt, đầu gối đau nhức, tứ chi rã rời. Tôi liền hít thật sâu như cố làm cơn đau giảm bớt, sau đó mở cặp tìm chai dầu để thoa sức lên chỗ bị trầy. Có một vật rơi xuống sàn, tôi cúi xuống lượm lên xem. Đó là thơ của Phòng Tài chánh thuộc trường Đại học Denver cảnh cáo tôi đã không học đủ mười hai tín chỉ trong quý học vừa qua. Lá thơ gợi nhớ bầu không khí nặng nề của buổi sáng được ông Kelly mời lên văn phòng. Ông buộc tôi phải trình bày lý do tại sao tôi đã không tuân thủ quy định dành cho mỗi sinh viên để nhận được học bổng trợ giúp của nhà trường và của liên bang.  Lời nói của ông Kelly vẫn còn nghe văng vẳng bên tai: “Tôi rất có cảm tình với anh, nhưng mong anh nhớ cho: tình ra tình, việc ra việc.”

     Tôi lại nhớ tới lớp Anh văn do cô Barbara phụ trách. Là một giáo sư rất khó tánh.  Lúc cô giảng bài, hai hàm răng cô khít rịt như thể cô lo sợ ruồi nhặng bay vào mồm. Rất ít sinh viên được cô chấm điểm Ưu. Ngòi viết của cô sắc bén tựa lưỡi kiếm của anh chàng Conan, trong phim Conan the Barbarian, chặt rất ngọt xuống những câu trả lời sai trong bài thi trắc nghiệm. Nên sinh viên đã gắn cho cô cái biệt danh là nữ Barbarian. Một người lúc nào cũng mang mặc cảm tự tôn. Lúc nào cũng tỏ ra ta đây thuộc thành phần ưu tú trong xã hội, có kiến thức sâu rộng và uyên bác hơn người. 

      Cũng theo nhận xét của sinh viên, những người đàn bà không chồng không con, ở lứa tuổi ngoài ba mươi, như cô Barbara đều có khó tánh như vậy.

      Nhưng không phải vì vậy mà họ không ưa thích học với cô. Số sinh viên trong lớp cô đông lắm. Trong đó có tôi.

      Lúc ghi danh chọn lớp Anh văn của cô, bạn Võ có khuyên:

     “Anh chớ nên chọn lớp Anh văn của cô Barbara vì cô rất khó lắm. Làm sao anh có thể qua cầu? Bị đánh rớt là cái chắc.”

     “Tôi không còn lựa chọn, bạn ạ. Các lớp khác đều hết chỗ. Không học với cô, tôi không nhận được học bổng của trường.”

    “Quả thật đây là một điều không may cho bạn! Làm sao bạn có thể qua được cái cầu Anh văn? Bạn không còn cách nào khác hơn là đóng chặt cửa phòng mà cắm đầu học?  Đó là lời khuyên chân thành của tôi.”

     “Cám ơn bạn đã có lời khuyên.”


      Hết khóa học, quả đúng như dự đoán của Võ, tôi không qua được cái cầu Anh văn. Bạn Võ nói không ngoa. Mặc dù tôi đã dành rất nhiều thời gian học cho môn Anh văn.  Thế mà vẫn rớt. Nên đành phải học lại khóa sau.

      Mỗi khi nhớ lại lớp Anh văn tôi vẫn còn thấy sợ. Vì tới bây giờ, tôi vẫn còn nói tiếng Anh theo giọng Pháp. Làm người nghe không hiểu, cứ luôn miệng nói: “What...” và “What...”. Khiến tôi mỏi tay ra dấu. Ngoài ra, tôi vẫn còn lẫn lộn cách đọc những chữ G và J khi spelling hai chữ cái này. 

      Một điều tôi sợ nhất là bạn bè chọn tôi làm cái đích để cười nhạo. “Một tên sinh viên già học hành tiếng Anh tiếng U như thế đấy! May may lắm thì mới vớ được em Mỹ mập tù lù, thân hình như cái lu làm bạn. Chứ sức mấy mà vớ được em đầm Mỹ xinh đẹp như hoa như mộng.”  Nghe thật sổ mình. Nhưng không dám trâng tráo trả lời: “Có nệm mút nằm còn hơn không.” Như dăm ba anh không chịu đến trường học ESL, đang hành nghề Lawn’s doctor ở thành phố Denver. 

  

     Mặc dù rớt môn Anh văn, tôi vẫn cảm thấy nhờ cố gắng học bài, đọc thêm sách nên vào khóa học mới tôi đã tương đối lấy “nốt” nghe giảng dễ dàng hơn khóa trước đây rất nhiều.  Nhưng khi nghĩ đến mười hai tín chỉ đã chọn trong quý học này, sáu tín chỉ về môn Thị trường và Kế toán đều là những tín chỉ hóc búa, khó nuốt nên không thể không lo lo. Tôi định đổi ý: Chọn Bơi lội thay thế môn Kế toán. Nhưng học như  vậy biết chừng nào mới ra trường?     

      Thình lình chiếc xe buýt ngưng lại, luồng tư tưởng của tôi bị cắt đứt ngang. Nhìn ra ngoài cửa kiếng xe, tôi thấy khuôn viên trường Đại học hiện ra trước mặt.


    

      Cặp kính cận tôi đeo bị vỡ trong lúc tôi trợt chân ngã xuống đường. Nên khi vào lớp  Kế Toán của giáo sư Mc Cabe, tôi phải rời chỗ ngồi quen thuộc, từ hàng ghế phía sau lên hàng ghế gần phía trước, để được gần bảng, để đọc chữ dễ hơn. 

      Tôi lại cảm thấy ngài ngại khi ngồi phía trước. Như có cảm tưởng đã dành chỗ ngồi tốt của những sinh viên trẻ. Và nghĩ họ là những người cần nhìn rõ bảng, nghe rõ bài giảng và cần sự giúp đỡ của giáo sư nhiều hơn tôi.  Ngồi phía trước, tôi tưởng tượng có rất nhiều cặp mắt nhìn vào phía sau ót, tạo cho tôi cái cảm giác lành lạnh nơi đó. Nên thường đưa tay kéo cổ áo cao lên. Ngoài ra, không đeo kính cận, tôi phải nheo mắt lại để đọc chữ viết trên bảng cho thấy rõ hơn. Việc này cũng tạo cho tôi thêm cái cảm giác đã làm một điều gì lố bịch khó coi.

     Tất cả những cảm giác đó làm tôi phút chốc nhìn vào đồng hồ đeo tay. Và ước mong lớp học mau hết giờ nhưng lớp học dường như cứ kéo dài đến vô tận.


      Khi tan lớp, tôi đi lại Trung tâm dạy kèm. Cô Janet, người sinh viên dạy kèm môn Anh văn, đang có ý trông chờ tôi lại học. Vừa thấy tôi, cô nói:

     “Không đeo kính, trông anh lạ quá. Có phải anh đang dùng contact lens không?”

     “Contact lens mắc lắm, tôi đâu có dư dả tiền bạc để mua. Sáng nay tôi lỡ làm vỡ cặp kính cận. Nên đang nghĩ đến việc xin tiền Phòng Tài chánh mua kính mới?”

     “Tôi không tin Phòng Tài Chánh giúp anh tiền mua kính mới đâu.”

      Tôi bắt gặp cái nhìn thương hại của cô Janet khi cô quay mặt chỗ khác. Tôi đâm ra chạnh lòng nghĩ đến hoàn cảnh của một sinh viên tỵ nạn nghèo, thiếu thốn về mọi mặt khi đặt chân tới đất Mỹ lánh nạn Cộng sản.      

      Hết giờ học thêm với cô Janet, tôi đi cà lết tới lớp của giáo sư Randy.

 

     Trong bộ vét ba mảnh, Tiến sĩ Randy đứng trên bục gỗ, trong một lớp học rất đông sinh viên, giảng về vấn đề Nghiên cứu Thị trường. Giáo sư ăn nói thao thao bất tuyệt, trông không khác một nhà hùng biện: “Việc nghiên cứu thị trường đòi hỏi chúng ta áp dụng bốn giai đoạn của phương pháp khoa học.  Định nghĩa vấn đề là việc làm quan trọng hàng đầu và cũng là việc làm khó khăn đối với những chuyên viên nghiên cứu vì nó đòi hỏi sự quan sát tỉ mỉ và thời gian khảo sát. Thông thường nó chiếm bán thời gian dành cho một dự án…” Giọng nói của Tiến sĩ rất lôi cuốn, thu hút toàn thể sinh viên chăm chú nghe. Mặc dù, giáo sư giảng rất hay, tôi vẫn không sao theo dõi bài giảng đầy đủ được.

      Thức khuya gạo bài và sáng nay trợt chân ngã một vố quá đau nên toàn thân tôi vẫn còn ê ẩm. Khiến tôi cảm thấy buồn ngủ. Tôi đưa tay dụi mắt nhiều lần. Như để xua đuổi con ngủ. Nhưng cơ hồ con ngủ cứ lì lợm không chịu đi. Khiến mắt cứ muốn xụp xuống. Cơ hồ vô phương chống trả. Làm sao tôi có thể ngủ gật trong giờ giảng của Tiến sĩ Randy? 

      Mấy lần toan tính đi vào phòng vệ sinh rửa mặt cho tỉnh.  Nhưng lại sợ mất bài.  Tôi chợt nhớ tới chai dầu mang trong cặp, liền lén lấy thoa một ít lên mắt. Mắt tôi đau xốn lên. Đau hơn cả những khi bị ong chích. Nhưng khi nghĩ tới trường hợp ngủ gục trong lớp mà bị ai đó bắt gặp và lan truyền tin này ra, tôi sẽ khốn khổ hơn gấp nhiều lần. Vì những tiếng xì xầm, những lời chê bai của những kẻ xấu mồm xấu miệng. Tạo thành một chuỗi “gossip” đè lên người sinh viên tỵ nạn già.  Và những ý nghĩ đó sẽ ám ảnh tôi suốt cuộc đời sinh viên. Thế nên tôi đành gắng gượng chịu đựng sự đau đớn đến khi tan lớp.

      Hết giờ dạy của Tiến sĩ Randy, tôi liền nhanh chân lết khỏi lớp, lết vội vào phòng vệ sinh rửa mặt. Tôi nhìn tôi trong tấm kính trên tường:  Tôi thấy mắt tôi đỏ ngầu, gương mặt sầu thảm.

      Phải chăng đó là kết quả màn khởi đầu của cuộc thử thách gay go của một sinh viên Việt Nam vừa đặt chân tới đất Mỹ?

     Sau khi rời phòng vệ sinh, tôi vẫn miên man suy nghĩ tiếp về những khó khăn mà tôi phải cố gắng vượt qua để đạt tới sự vinh quang trong ngày tốt nghiệp ra trường. Không để cho các sắc dân tỵ nạn khác chế nhạo chê cười. Đám dân Việt Nam tị nạn dốt nát chỉ biết sống bám vào welfare và foodstamp của nhà cầm quyền Mỹ.


      Ngoài trời bắt đầu đổ mưa. Tôi nhanh chân lết vào Câu lạc bộ sinh viên để trú mưa. Để nghỉ mệt. Để cho đôi chân bớt đau. Để quên đi những sự việc không may xảy đến tôi trong sáng nay và những ngày vừa qua...Và ăn gói chip cho đỡ đói. 

     Vừa hết mưa, tôi đứng dậy, rời Câu lạc bộ để đến Thư viện đọc sách. Đi ngang qua dẫy lớp học phía Tây của trường, tôi gặp Vũ đang trò chuyện cùng một số bạn sinh viên Việt Nam học cùng lớp. Vũ chận tôi lại và nói:

     “Chúng tôi dự định tổ chức một buổi dạ vũ vào cuối tuần này, rất mong anh  đến tham dự cho vui.”

     “Không bận gì, tôi sẽ tham dự, cám ơn bạn.”

     Tôi tiếp tục vừa đi vừa nghĩ: 


     Làm sao mình có thể vừa học vừa chơi như đám sinh viên trẻ? Mình là một sinh viên già. Mình phải cố gắng học ngày đêm để mau chóng ra trường, kiếm việc làm giúp đỡ cho chính bản thân, sau đó giúp đỡ những người thân yêu đang sống trong cảnh nghèo đói ở quê nhà.


      Đi gần tới Thư viện, tôi vô tình chứng kiến cảnh anh sinh viên khiếm thị trợt chân vấp vào bực thềm.  Toàn thân chao đảo và ngã nằm lăn xuống đất còn ướt sũng nước mưa. Quần áo lấm lem. Chân tay dính đất. Trong tôi liền nảy sanh ý tưởng so sánh: Tôi với anh chàng sinh viên khiếm thị. Sự so sánh làm tôi chạnh lòng cảm thương cho anh. Và cảm thương cho cả tôi.

      Chính tôi cũng đang đi trên con đường đầy cam go khổ cực trước mặt. Chẳng khác chi đoạn đường chiến binh trong quân trường Thủ Đức xưa kia. Có khác chăng là không có những bãi mìn, những tiếng súng bắn chíu chíu trên đầu, không có cảnh ôm súng trường bò ngửa kiểu cá lốc dưới những hàng dây kẽm gai...

      Ngoài ra, con đường học vấn tôi đã chọn và đang đi cũng trơn trớt không thua gì con đường trơn trợt của hè phố tôi vấp ngã sáng nay. 

      

      Bước vào Thư viện tôi tìm một góc thật yên tĩnh để học. Tôi cố gắng chăm chú đọc những gì giáo sư Tiến sĩ Randy dạy trong lớp, trong cuốn sách giáo khoa về môn Thị trường.  Hình ảnh buổi dạ vũ do Vũ cùng nhóm sinh viên trẻ tổ chức cứ chập chờn trong đầu. Kế đến là hình ảnh anh sinh viên khiếm thị nằm ngã lăn trên đất. Khiến tôi không còn đủ tâm trí để tập trung vào việc đọc những hàng chữ nhỏ li ti trong sách.

      Tôi ngẩng đầu, hít thở thật sâu, cố làm những hình ảnh đó tan biến đi. Vừa lúc đó, tôi nhìn thấy một cặp sinh viên ngồi phía trước tôi: Sách của họ được mở rộng trước mặt. Nhưng họ đưa mắt âu yếm nhìn nhau nhiều hơn nhìn vào sách. 

      Sợ bị bắt gặp nhìn lén, tôi đứng dậy đi vào phòng vệ sinh rửa mặt. Nước mát làm tôi tỉnh táo, làm những suy nghĩ viễn vong cùng những buồn phiền vô cớ tan biến đi. Tôi chợt thấy trên tường có những giòng chữ viết nguệch ngoạch như sau:


             Tụi bay bẻ gãy cây bút chì

             Lại còn chôm chĩa cây bút mực

             Không hổ danh thi sĩ cầu xí

             Ta thề quyết trở lại đề thi.  

     

       Những hàng chữ “cua bò” trên tường làm tôi nghĩ tới tánh tình các em học sinh hay sinh viên. Không phải chỉ ở Việt Nam họ mới “quậy” mà ngay cả ở Mỹ họ cũng quậy phá không kém. Câu nói của người xưa “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”  lại chợt đến với tôi và gợi nhớ tánh nghịch ngợm của cô học sinh học với tôi thời đi dạy thêm ở trường Hoàng Nguyên, trên đường Võ Tánh Saigon. 

     “Hồi đó, ngoài trường Trung học Nguyễn An Ninh, mỗi tuần tôi còn dạy thêm vài giờ Pháp văn ở trường tư thục Hoàng Nguyên. Trong lớp có một em học trò, vừa đi làm vừa đi học, nhà ở trên đường Phan Đình Phùng, Gia Định. Bên hông chợ Bà Chiểu. Em biết nhà tôi nằm trên đường Bạch Đằng cũng thuộc tỉnh Gia Định, lúc đi về phải đi ngang chợ Bà Chiểu. Nên em thường xin quá giang xe tôi về tới chợ Bà Chiểu. Và yêu cầu tôi bỏ em xuống trước nhà thuốc Tây đầu đường Phan Đình Phùng, rồi em đi bộ về nhà. Còn tôi tiếp tục lái chiếc xe Vespa chạy thẳng tới ngã tư đèn xanh, rồi rẽ vào đường Bạch Đằng, hướng phía Hàng Xanh.

      Cô học trò còn kể, cô rất thân với cô Bông, con bà Mười. Cô còn quen cả anh Tâm, anh cô Bông, hiện đang dạy ở Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức.

      Bà Mười có mở lớp dạy cắt may tại nhà, cũng trên đường Phan Đình Phùng. Bà thường hay tổ chức các chuyến du ngoạn Vũng Tàu, Long Hải, núi Bửu Long ở Biên Hòa... các chuyến viếng thăm núi Sam ở Châu Đốc, khu Thánh thất Cao Đài ở Tây Ninh. Cho các bạn hàng trong chợ Bà Chiểu. 

     Đã là bạn cô Bông, cô cũng được xem như là bạn của vợ tôi. Vì cô Bông chơi rất thân với vợ tôi. Thường hay ra chợ, ghé sập hàng Mỹ phẩm vợ tôi bán để mua son phấn. Mua ở cửa hàng vợ tôi thì không sợ mua lầm hàng giả hàng dỏm.

     Và một khi đã coi cô học trò như một trong những người quen biết trong chợ Bà Chiểu. Như các cô Hiền, cô Hường, cô Thành, cô Bé... Tôi sẵn sàng giúp đỡ. Chở cô học trò ngồi đằng sau xe đâu có mất mát gì. Giúp người là chuyện nên làm. Vả lại có cô học trò quen biết nói chuyện huyên thiên với ông “thầy tài xế”, cho dù đường xa mấy ông “thầy tài xế” cũng không còn cảm giác mệt mỏi. 

       Mỗi lần chở cô về tới chợ Bà Chiểu và thả xuống ở đầu đường Phan Đình Phùng, trước nhà thuốc Tây, cô thường nói:  

     “Em nhất định hôn thầy để trả công. Em không quên ơn thầy đâu.”

      Tôi lật đật cản:

      “Thầy giúp em là thầy giúp. Đằng nào khi đi dạy về, thầy cũng chạy xe ngang qua đây. Có gì mà ơn với nghĩa.”

       Tôi cứ nghĩ cô học trò này nói chơi nói dỡn. Làm sao cô hôn tôi được? Vì tôi đâu có xuống xe đưa mặt cho cô hôn. Dù cho đó là nụ hôn gió. Gió cũng không đưa nụ hôn tới tôi. Vì vừa bỏ cô học trò xuống, tôi liền phóng xe đi. Phóng lẹ hơn cả gió. 

       Nhưng khi về đến nhà, thay bộ đồ đi dạy ra, tôi mới nhận thấy nét môi son cô em hôn lên áo sơ mi trắng. Dấu môi hôn đỏ chót. Thật rõ nét. Thật đẹp.” 


       Nhớ lại vết môi son lưu trên áo năm xưa, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến tánh đùa dai, tánh nghịch ngợm của học trò. Không phải chỉ có học trò trai mới quậy phá mà cả học trò gái cũng quậy phá không kém. Và tôi muốn bày tỏ suy nghỉ của tôi về nhận xét của người xưa. Câu nói của người xưa quả thật quá đúng. Không sai một ly ông cụ.

      Và theo thời gian, tôi cứ ngỡ rằng tánh đùa dai dễ thương của cô học trò vừa đi làm vừa đi học năm xưa đã mờ phai. Và biến mất. Như vết hôn son cô để lại trên áo. Không lưu lại vết tích gì sau khi giặt sạch.  

       Nhưng tôi không ngờ, dấu môi son đỏ in trên áo sơ mi trắng ngày xưa đó, nay đã trở thành một kỷ niệm đáng yêu đáng nhớ trong cuộc đời đi dạy. Để bây giờ nhớ lại câu chuyện tinh nghịch của cô học trò, vết son môi trên áo đã dấy lên trong tôi một niềm vui nho nhỏ. Như vừa đủ để tạo cái cảm giác thoải mái dễ chịu khi quay lại chỗ ngồi trong thư viện MSC. Đọc sách tiếp. Đọc miết đến khi loa phóng thanh của Thư viện thông báo giờ “đóng cửa”. Lúc đó, tôi mới vội thu xếp sách vở bỏ vào cặp để ra về. Với sự luyến tiếc thời gian đã qua rất mau.

     

     Về tới nhà, tôi khui súp hộp và ăn với bánh lạt. Ăn xong lấy ly hứng nước vòi uống. Rồi vội vã đi tắm. Sau đó lên giường ngủ. 

     Tôi cố gắng nhắm mắt ngủ để quên đi một ngày dài đã nặng nề trôi qua. Nhưng không sao ngủ được, cứ trằn trọc lăn qua lăn lại trên giường. Một hồi lâu sau, tôi mới chợp mắt được. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi lại thấy hiện ra những khuôn mặt của các vị thầy khả kính: thầy Randy, thầy Mc Cabe… đang hăng say giảng bài. 

      Tôi đưa tay dụi mắt để kiểm soát tôi đang mơ hay tỉnh. Rồi vói tay bật ngọn đèn ở đầu giường, đọc sách. Tôi đọc miết đến khi mỏi mắt buông sách ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

      Cuốn sách dầy cộm nằm bên cạnh trông tựa người tình.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 724,629
Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, "Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên," tác giả đã nhận giải chung kết 2014. và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Sau đây, thêm một bài viết mới.
Ngày xưa, trong cái thời hưng thịnh của Thung Lũng Silicon, chúng tôi cũng đã từng trải qua cái thời “tách ly”. Chồng tách (technician) vợ ly (assembly). Ai đã từng ở thành phố này đều nhớ đến cái thời thật huy hoàng đó. Không cần phải bác sĩ, kỹ sư gì cho nó mệt. Cứ hai vợ chồng, người tách người ly là tha hồ cuối tháng đếm tiền mệt nghỉ. Công việc trong các nhà máy thì dễ dàng, lềnh khênh nhiều không kể xiết. Overtime thì vô cùng thoải mái. Chịu khó ngồi ráng thêm vài tiếng là có tiền gấp rưỡi hay nếu là ngày nghỉ thì double pay. Thời đó ai làm việc trong các dây chuyền sản xuất, lãnh lương theo giờ còn sướng hơn mấy ông engineer ăn theo lương tháng nhiều. Làm tiền dễ đến nỗi quên cả thời gian. Nhiều khi cả tuần hai vợ chồng chỉ gặp nhau có một vài lần. Cũng tách ly nhưng quá sướng chứ có đâu như bây giờ cái thời cách ly ôn dịch. Đúng là cái tai hoạ tự nhiên từ trên trời rớt xuống. Có ai ngờ trong cái thời đại tiên tiến của cái thế kỷ thứ 20 có ngày tại cái xứ Mỹ này,
Tác giả hiện sống ở thành phố Victorville, California, đã từng tham gia VVNM năm 2018.
Tác giả một mình vượt biển giữa thập niên 80 khi còn tuổi học trò. Dự Viết Về Nước Mỹ từ năm đầu tiên, cô nhận giải danh dự 2001. Bốn năm sau, nhận thêm giải vinh danh tác phẩm 2005. Sau đây là bài viết mới nhất của cô.
Khi được hỏi về những hiểm họa có khả năng đe dọa tới đời sống nhân loại, nhà vật lý siêu đẳng Stephen Hawking nhắc tới bốn điều: thứ nhất, một cuộc chiến tranh hạt nhân bất ngờ; thứ nhì, vi khuẩn biến đổi gen; thứ ba, trái đất ấm dần; và thứ tư, những hiểm họa khác mà con người vẫn chưa biết. Lời tiên đoán của ông ngày hôm nay đang trở thành một hiện thực. Từ khi xuất hiện trên trái đất, vi khuẩn Vũ Hán họ Corona chủng mới tiếp tục đánh gục lần lượt từng quốc gia. Trung Cộng trước tiên, rồi Hàn Quốc, rồi Iran, Ý, và Âu Châu, tiếp nối là Úc và Hoa Kỳ. Mới nhất, Ấn Độ với hơn 1 tỷ người cũng đã phong tỏa. Đến ngày hôm nay, cả thế giới đều chưa kiếm ra vũ khí để chặn đứng vó ngựa bách chiến bách thắng của đoàn vi khuẩn Vũ Hán. Bởi thế, vi khuẩn Corona chủng mới đi tới đâu, nơi đó không còn bóng người.
Cả tuần ở ẩn, sáng trưa chiều tối, anh và em, hai người không xa lạ 24 giờ trên 24 bốn mắt nhìn nhau quen quen mấy mươi năm nay, bỗng tự giam hãm ta với mình cận kề đến đuối sức. Ngày hai buổi cơm hai đứa coi TV quanh quẩn dịch bệnh Tàu cộng, thế sự đó đây toàn cầu mang màu tử khí từ vi khuẩn cô vy 19, Tàu tuyên bố hết bệnh, thế giới bước vào dịch bệnh dãy dụa tức tưởi.
Tôi có anh bạn học cũ thời trung học, lớp đệ nhất C ở trường Võ tánh, Nhatrang, tên Dũng, rất thân. Đậu tú tài 2 năm 1963, Dũng vào làm ngành cảnh sát, lên chức đại úy trưởng ty ở Nhatrang mấy năm thì VC vào năm 75, phải đi tù cải tạo 10 năm. Tôi tuy cũng nhập ngũ nhưng gốc giáo chức, nên chỉ ở tù một năm , sau đó về nhà nai lưng làm đủ thứ nghề lao động tay chân sinh sống qua ngày.
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả.
Đặng Hà Nội tên thật là Đặng Thống Nhất đã từng dậy Song Ngữ và ESL tại Khu Học Chính Minneapolis và Việt Ngữ tại Đại Học Minnesota. Thú tiêu khiển của tác giả là viết truyện, hội họa và du lịch trong khi về hưu.
Tác giả dự Viết Về Nước Mỹ từ năm đầu, đã nhận giải bán kết 2002 với bài "Tiểu Hợp Chủng Quốc" kể về nơi cô làm việc, khi khủng bố tấn công nước Mỹ ngày 9 tháng 11 năm 2001. bài viết mới đăng 2 kỳ. Tiếp theo và hết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.