Những Ngày Đầu Tị Nạn

05/01/200100:00:00(Xem: 235950)
Tuy sinh ra ở miền Bắc Việt Nam nhưng tôi chẳng có một ấn tượng gì về cái gọi là "Hà Nội ba mươi sáu phố phường"cả. Năm tôi lên ba, bố mẹ tôi theo làn sóng di cư lánh nạn Cộng sản vào Nam tìm tự do.

Tôi lớn lên tại Miền Nam trù phú, và tưởng rằng mình sẽ chọn Sàigòn hoa lệ làm quê hương thứ hai cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Nhưng có ai biết được định mệnh của mình" Có ai ngờ rằng ngày hôm nay tôi là một công dân Mỹ, sống trên đất Mỹ, có một cái tên rất Mỹ... mặc dù da tôi vẫn vàng mũi tôi vẫn tẹt.

Bố tôi có một người bạn biết về khoa lý số. Khi tôi còn bé, ông đã lấy lá số tử vi xem tướng cho tôi và đã khẳng định là lớn lên tôi sẽ phải ly hương, lúc hoạn nạn sẽ có quý nhân phò trợ và suốt cuộc đời tôi sẽ gặp toàn những chuyện may mắn không ngờ. Tôi là n người không tin bói nên cũng chẳng để ý đến lời tiên đoán này cho lắm.

Khi còn ấu thơ, nghe nói tôi là một đứa trẻ thông minh, học giỏi và có một trí nhớ rất tốt.

Những năm ở bậc tiểu học, tháng nào tên tôi cũng được ghi trên bảng danh dự và cuối niên khóa năm nào tôi cũng ôm về nhà một phần thưởng to tổ bố.

Tuy học giỏi, tôi lại không có duyên với trường thi. Hai lần thi tuyển vào Chu Văn An và Petrus Ký, tôi đều lọt sổ. Câu "học tài thi phận" có lẽ "đem áp dụng cho tôi là phù hợp nhất. Vì vậy, bố tôi đành phải đóng tiền hàng tháng để cho tôi trở thành học sinh của hai trường Phan Sào Nam và Hưng Đạo.

Những năm ở bậc trung học, tôi vẫn học giỏi và vẫn đứng đầu lớp. Cuối năm đệ Nhị (lớp 11) tôi "hồ hởi, anh dũng" tham dự kỳ thi Tú Tài phần thứ nhất.

Ngày đi xem kết quả, tôi chắc mẫm là ít nhất tôi phải đậu Bình. Nhưng, phải chi tự điển đừng có chữ "nhưng" quái ác này nhỉ, tôi đã dò lên, dò xuống, dò tới, dò lui, dò mòn cả giấy của bảng kết quả mà vẫn không thấy cái tên mình đâu cả.

Tôi thất thểu trở về báo tin buồn cho gia đình. Gia đình tôi sau những phút ngỡ ngàng đã đem câu "học tài thi phận", một lần nữa để an ủi cho sự "kém" may mắn của tôi.

Thực ra, bây giờ nghĩ lại, đây có thể là điều "rất may mắn" đầu tiên trong một chuỗi may mắn của cuộc đời tôi. Nếu năm đó tôi thi đỗ, biết đâu giờ này tôi không ngồi đây viết bài cho Việt Báo mà có thể đã về với cát bụi như rất nhiều tên bạn cùng lớp của tôi.

Thế rồi, làm trai thời chinh chiến, tôi đành hát câu "rớt tú tài anh đi trung sĩ", xếp bút nghiên, sửa soạn hành trang lên đường nhập ngũ lòng chinh.

Tôi may mắn được gia nhập đại gia đình Không Quân vào đầu năm 1971 mà bố mẹ tôi không phải tốn một đồng xu nào (những năm về sau, nghe nói thanh niên muốn được tuyển vào binh chủng Không Quân, cha mẹ phải tốn rất nhiều tiền trà nước nếu gia đình không thuộc loại có "gốc".)

Sau ba tháng quân trường, tôi lại may mắn được gởi đi học Anh ngữ quân đội. Giữa năm 1972, tôi lại may mắn thêm lần nữa, được tuyển chọn để đi tu nghiệp kỹ thuật tại Hoa Kỳ (Lackland AFB, San Antonio, Texas và Keesler AFB, Biloxi, Mississippi).

Cuối năm 1973, tôi trở về nước, được phục vụ tại Tân Sơn Nhất (trong thời gian này, tôi đã lấy hai mãnh bằng Tú Tài 1 và Tú Tài 2 một cách dễ dàng và trở thành sinh viên của đại học Văn Khoa).

Tháng 6 năm 1974, tôi lại may mắn có tên trong danh sách được đi tu nghiệp bổ túc tại Hoa Kỳ, nhưng đến giờ chót, việc này bị thay đổi và cuối cùng chúng tôi đã phải học tại Tân Sơn Nhất với một kỹ thuật sư người Mỹ. Lễ mãn khóa dự trù vào ngày 30-4-75 và tôi đã may mắn rời Việt Nam, sáng ngày 29-4-75. Có lẽ đây là điều may mắn nhất trong cuộc đời tôi vì tôi không phải sống với chế độ Cộng sản một ngày nào.

Sau ba ngày tạm trú tại Utapao, Thái Lan, tôi đặt chân lên đảo Guam ngày 2-5-1975. Trong túi tôi không có một đồng xu dính túi ngoài trừ hơn 30 ngàn đồng Việt Nam vô giá trị. Nhờ óc thông minh và với số vốn Anh ngữ sẳn có, tôi đã nhanh chóng nghĩ ra cách kiếm tiền một cách dễ dàng và hợp pháp. Tôi lân la đến những anh chàng Gi trên đảo, sau một vài câu xã giao, tôi móc túi lấy ra xấp giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa và gạ gẫm với họ:

"Các anh có biết những tờ giấy bạc này sẽ có giá trị như thế nào trong tương lai không" Tôi cho các anh một cơ hội để làm chủ lịch sử bằng cách đổi cho các anh một tờ giấy bạc này với một tờ giấy bạc Hoa Kỳ. Anh có thể chọn bất cứ tờ nào anh thích trong xấp giấy bạc này và chỉ cần anh đưa lại tôi bất cứ giấy bạc Hoa Kỳ nào anh muốn".

Trong ba ngày ở Guam, tôi đã kiếm được hơn 150 đôla.

Từ giã đảo Guam, tôi đến trại Pendleton vào đêm 5-5-75. Chúng tôi là những người đầu tiên được đưa tới trại 8, với những cái lều vải khổng lồ. Mọi người được ngủ trên một cái ghế bố với một cái phao hơi (air matress) làm niệm, cùng một cái gối và một cái chăn len.

Những đêm đầu, tôi không thể nào ngủ được. Chu choa, xứ sở gì mà lạnh thế. Có lẽ vì chưa quen với thời tiết nên mặc dù giữa mùa xuân mà tôi cứ tưởng như mình đang sống giữa mùa đông giá lạnh. Mỗi đêm, tôi đóng vào người bộ long-jon (đồ ngủ của quân đội), ngoài mặc quần dài và áo sơ-mi, khoác thêm cái áo lạnh, đắp hai cái chăn len, thế mà vẫn co ro không đủ ấm.

Đời sống trong trại Pendleton thật quá nhàn hạ. Sáng sắp hàng ăn điểm tâm, trưa sắp hàng ăn trưa, chiều sắp hàng ăn chiều, tối đến lại kéo nhau đi xem movie, giờ rảnh thì tự do ngủ, đọc sách, đi lang thang hoặc chơi volleyball... cho qua ngày.

Qua tuần lễ đầu, tôi đã cảm thấy chán. Là một người năng hoạt động và thích công tác xã hội, tôi cùng một vài người nữa đã tổ chức những lớp dạy Anh văn miễn phí cho đồng bào tị nạn.

Chúng tôi lấy nhà ăn làm lớp học, một ngày dạy hai buổi sáng chiều, mỗi buỗi hai giờ. Chúng tôi cũng kêu gọi sự tình nguyện trợ giúp của những người có khả năng sinh ngữ. Lúc đầu, số tình nguyện đi dạy được gần 20 vị.

Vì chúng tôi dạy "chùa" nên số học viên mỗi ngày một tăng trong khi số giáo sư mỗi ngày một giảm. Chưa được một tháng, chúng tôi chỉ còn lại năm người. Có những lúc chúng tôi đã phải dạy hai lớp một lần. Dạy lớp này một chút, dạy lớp kia một chút.

Thú thật, có nhiều lần tôi cũng hơi nản chí và muốn bỏ cuộc. Nhưng khi đến lớp học, nhìn những vị học viên lớn tuổi, nói tiếng Anh giọng Pháp, học đâu quên đó, nhưng họ vẫn không nản chí, vẫn hai buổi ngày ngày cắp sách tới lớp, đã làm tôi suy nghĩ. Đây là động lực chính đã giúp tôi có thể tiếp tục nghề làm "giáo sư" bất đắc dĩ này.

Một hôm, ban quản trị trại mời tôi lên văn phòng để gặp một người đàn bà Mỹ tên là Felicity Bach. Bà Bach là một giám đốc của Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ. Bà cho tôi biết là bà đã xin được tiền chính phủ cho lớp Anh Văn và từ nay chúng tôi sẽ có lương, năm đồng một giờ, không phải đóng thuế. Bà muốn tôi điều hành chương trình giảng dạy Anh ngữ và tổ chức lại cho có phương thức. Bà cũng đề nghị tôi tuyển thêm một số giáo sư nữa.

Buổi chiều hôm ấy, hơn năm mươi người đã sắp hàng trước lều của tôi để nộp đơn, trong số này có cả những người đã bỏ chúng tôi trong những tuần lễ trước.

Hội Hồng Thập Tự, phối hợp với Bộ Y Tế, Giáo Dục và Xã Hội (HEW) cũng tuyển thêm những sinh viên du học Việt Nam và những người Mỹ thiện nguyện bên ngoài vào trại để giúp chúng tôi. Họ cũng cung cấp cho chúng tôi tài liệu giảng dạy, sách vở và dụng cụ văn phòng.

Nhờ có tiền, sinh khí của những lớp Anh Văn trở nên sôi động. Mỗi một lớp học được giảng dạy bởi một giáo sư người Việt Nam và một giáo sư người Mỹ thiện nguyện. Đó là những ngày vui nhất của tôi với trại Pendleton.

Một lần nữa, sự may mắn lại đến với tôi. Một trong số những người Mỹ thiện nguyện tốt bụng này đã ngỏ ý muốn bảo trợ cho tôi. Tháng 8 năm 75, tôi giã từ trại Pendleton nhiều kỷ niệm, giã từ những lớp Anh Văn thân yêu để về Newport Beach bắt đầu cho một cuộc sống mới trên miền đất được mệnh danh là "land of the opportunities: miền đất của cơ hội".

Ông bà bảo trợ của tôi đã cho tôi trú ngụ trong nhà của họ miễn phí, cho tôi ăn uống miễn phí, đối xử với tôi như một người thân trong gia đình và giúp tôi tìm việc làm trong một hãng điện tử. Khi tôi đủ lông đủ cánh và xin được tự lập, ông bà đã đích thân giúp tôi mướn một căn apartment và trả trước cho tôi ba tháng tiền nhà. Thật là những tấm lòng vàng hiếm có.

Sự may mắn kỳ lạ vẫn còn theo tôi cho đến ngày hôm nay. Hơn hai mươi lăm năm sống trên đất Mỹ, cuộc đời tôi cũng nhiều lần gặp sóng gió và cũng nhiều lần chao đảo. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi lần gặp khó khăn thì sự may mắn kia lại đến với tôi và dường như có một bàn tay vô hình nào đó đã giúp tôi vượt qua những sự khó khăn đó một cách dễ dàng.

Tuy vẫn không tin bói toán, tôi vẫn nhớ lời ông bạn của bố tôi và hy vọng rằng lời tiên đoán của ông dành cho tôi sẽ đúng một trăm phần trăm.

Trần Quốc Sỹ
Huntington Beach, CA
8/2000

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 809,087,677
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
Giải Thưởng Việt Báo Việt Báo
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.