Giải Thưởng Viết Về Nước Mỹ 2010: Cố Cụ Bà Hà Thị Phức, nhân vật chính của bài “Mẹ, Mẹ Tôi” từ San Jose bay về lãnh giải chung kết 2010 cho người con, tác giả Nguyễn Trung Tây.
Tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ năm 2010. Ông là một Linh mục Dòng Truyền giáo Ngôi Lời thuộc tỉnh dòng Chicago. Nhiều năm qua, ông lãnh việc truyền giáo tại Alice Springs, Northern Territory, vùng sa mạc đất đỏ Úc Châu. Từ 2016, nhiệm sở truyền giáo mới của Linh mục là một thành phố vùng cao nguyên Tagaytay, Philipinnes. Nhận xét về những tác phẩm của Nguyễn Trung Tây phổ biến trên nhiều diễn đàn tôn giáo và văn học từ hơn thập niên qua “Những tác phẩm của ngài dù được viết với giọng văn đầy dí dỏm, khôi hài vẫn để lại trong lòng người đọc những suy tư trăn trở về văn hóa, gia đình, xã hội, đất nước và ý nghĩa của kiếp người.”
Nhân dịp 50 năm kỷ niệm cộng đồng người Việt xa quê hương, VVNM trân trọng giới thiệu Nguyễn Trung Tây với bài viết mới nhất về tiến trình lịch sử di dân của người Việt, được tác giả biên khảo công phu. Bài đăng hai kỳ.
Nhân dịp 50 năm kỷ niệm cộng đồng người Việt xa quê hương, VVNM trân trọng giới thiệu Nguyễn Trung Tây với bài viết mới nhất về tiến trình lịch sử di dân của người Việt, được tác giả biên khảo công phu. Bài đăng hai kỳ.
***
(tiếp theo kỳ 1)
II. Biến cố 1975
A. Thử thách: Hành trình di dân đau thương
Di dân sau năm 1975 là một hành trình di dân chính trị trong lịch sử Việt Nam. Hàng trăm ngàn người đã liều mình băng qua Campuchia, tìm đường đi vào Thái Lan. Hoặc họ vượt biển bằng những con thuyền gỗ mong manh, không bản đồ, không lương thực đầy đủ, không phương tiện liên lạc hiện đại. Họ được gọi là “bộ nhân” và “thuyền nhân,” hai cụm từ đã trở thành biểu tượng của một giai đoạn lịch sử của Việt Nam và của cả thế giới.
Đặc biệt trên biển cả mênh mông, thuyền nhân di dân phải đối mặt với bão tố dữ dội, nạn đói, và đặc biệt là hải tặc, vốn không chỉ cướp của mà còn hành hạ, giết người, xâm hại phụ nữ. Theo ước tính từ các tổ chức quốc tế, có khoảng hơn nửa triệu thuyền nhân đã vĩnh viễn nằm lại giữa lòng đại dương.[1]
Những người sống sót sau hành trình vượt thoát thường được đưa đến các trại tị nạn tạm thời ở các quốc gia Đông Nam Á như Pulau Bidong tại Malaysia, Galang của Indonesia, Panat Nikhom của Thái Lan. Tại đây, họ tiếp tục phải đối mặt với cuộc sống thiếu thốn, bất định, và chen chúc trong các lều trại tỵ nạn tạm bợ. Tương lai dường như đóng băng tại các trại tỵ nạn, bởi thời gian chờ đợi để được xét duyệt hồ sơ tái định cư tại các nước thứ ba (Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Đức) có thể kéo dài từ vài tháng đến nhiều năm.
Ngay cả sau khi đã đặt chân đến những quốc gia tái định cư, thử thách vẫn chưa kết thúc với người di dân. Trên vùng đất mới, người Việt tị nạn phải bắt đầu lại từ con số không. Họ học ngôn ngữ mới, thích nghi với nền văn hóa mới, hiểu biết về luật pháp mới, hệ thống giáo dục mới. Với người trẻ tuổi, học đường và hòa nhập tương đối nhanh chóng. Nhưng với người lớn tuổi, rào cản ngôn ngữ và kỹ năng nghề nghiệp khiến họ rơi vào tình trạng bị hạn chế, và cú sốc văn hóa. Nhiều người chấp nhận làm những công việc nặng nhọc, lương thấp, trong khi vẫn phải cáng đáng vai trò trụ cột trong gia đình.
Quá trình tái định cư, vốn dĩ đã là một thử thách lớn, lại càng trở nên khó khăn hơn khi người tị nạn phải đối diện với sự đứt gãy văn hóa, rào cản ngôn ngữ, và sự xa lạ về lối sống, giá trị, cũng như thiếu vắng những hỗ trợ xã hội phù hợp. Sự thiếu vắng môi trường quen thuộc, mạng lưới cộng đồng đồng hương, và sự hiểu biết hoặc đồng cảm từ phía người bản xứ đã khiến họ cảm thấy lạc lõng, bị cô lập trong chính nơi mình đang sống. Đối với các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, tình trạng này còn trầm trọng hơn. Nhiều người trong số họ không chỉ mang theo vết thương thể xác từ chiến trường mà còn phải gánh chịu những tổn thương tinh thần sâu sắc do thất trận, mất nước, và cảm giác bị bỏ rơi. Khi đến được bến bờ tự do, họ thường kỳ vọng sẽ tìm thấy sự bình an và phục hồi, nhưng thực tế lại là chuỗi ngày đối mặt với thất nghiệp, mất địa vị xã hội, và cảm giác vô nghĩa trong một xã hội xa lạ. Những yếu tố này khiến họ dễ rơi vào trạng thái trầm cảm.
B. Cơ hội: Tái thiết cuộc đời, khẳng định cộng đồng
Từ những trại tị nạn chật chội và cuộc sống khó khăn ban đầu trên vùng đất mới, nhiều người Việt đã không ngừng vươn lên bằng chính nghị lực, lòng kiên trì, trên tất cả, tinh thần hiếu học vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc.
1. Giáo dục: Cánh cửa vươn lên và chuyển hóa số phận
Trong số các lĩnh vực mở ra cơ hội đổi đời cho di dân Việt tại hải ngoại sau biến cố 75, giáo dục chính là con đường then chốt giúp nhiều gia đình vượt qua cảnh nghèo khó và hội nhập thành công. Nhiều người trẻ tuổi cả nam lẫn nữ, sau khi đặt chân tới các quốc gia thứ ba đã cắp sách đến trường cao đẳng hoặc đại học để trau dồi kiến thức, chuẩn bị cho những cơ hội thăng tiến trong những vị thế tại các hãng xưởng. Đặc biệt nhất, thế hệ thứ hai, những người sinh ra hoặc lớn lên tại Mỹ, Canada, Úc, Pháp, đã nhanh chóng thích nghi với hệ thống giáo dục hiện đại và phát huy tối đa khả năng trong môi trường học đường tự do và khai phóng.
Nhiều học sinh gốc Việt đã trở thành thủ khoa các trường trung học, nhận học bổng danh giá, và được tuyển vào các đại học hàng đầu như Harvard, Stanford, MIT, Oxford, hoặc Melbourne University. Từ khởi đầu khiêm tốn của tỵ nạn nghèo khó, di dân Việt vươn lên trở thành bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, luật sư, doanh nhân, chính trị gia. Những người tỵ nạn 75 cùng nhau xây dựng một cộng đồng Việt vững mạnh tại hải ngoại đóng góp tích cực vào xã hội địa phương. Đại tá Cao Hùng mới đây được chính phủ Hoa Kỳ phê chuẩn lên vị trí Thứ trưởng Bộ Hải Quân Hoa Kỳ.
Điều đáng quý là, dù sinh sống ở nước ngoài, nhiều người trong số họ vẫn giữ gìn cội nguồn văn hóa Việt. Người Việt, đặc biệt tuổi trẻ, tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, dạy tiếng Việt cho thế hệ tiếp nối. Những lớp Việt ngữ cuối tuần được xây dựng tại những thành phố có đông người tỵ nạn tái định cư. Thí dụ, trường Việt ngữ Văn Lang tại San Jose, California. Ngoài ra, các lớp Việt ngữ do các tôn giáo, Phật giáo và Kitô giáo, đứng ra tổ chức cũng không thiếu. Bởi thế, thành công của cộng đồng di dân Việt sau biến cố 75 không chỉ là thành tựu cá nhân nhưng là của cả một cộng đồng.
2. Cơ hội nghề nghiệp và kinh doanh
Không chỉ có giáo dục, lĩnh vực nghề nghiệp và kinh doanh cũng là những mảnh đất màu mỡ giúp người Việt di dân phát huy năng lực và tích lũy thành tựu đáng kể. Ban đầu, nhiều người phải bắt đầu từ những công việc lao động giản đơn, thậm chí chấp nhận mức lương thấp và điều kiện làm việc khắc nghiệt trong giai đoạn hội nhập đầu tiên. Tuy nhiên, với ý chí kiên trì, tinh thần chịu khó và khả năng học hỏi nhanh, họ đã từng bước thăng tiến trong công việc hoặc tự đứng ra khởi nghiệp, xây dựng sự nghiệp vững chắc. Các khu thương mại người Việt như chợ, nhà hàng, cửa hàng dịch vụ, và các doanh nghiệp do người Việt di dân đã lần lượt xuất hiện ở khắp các thành phố trên thế giới, như Quận Cam, San Jose, Toronto, Sydney, Paris... Những khu vực này không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn trở thành không gian sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cộng đồng, góp phần duy trì và phát huy bản sắc truyền thống.
Nhiều doanh nhân gốc Việt đã phát triển quy mô kinh doanh từ nhỏ đến lớn, trở thành những nhân tố kinh tế có tầm ảnh hưởng trong xã hội sở tại. Họ góp phần đa dạng hóa thị trường, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng người Việt và người bản xứ, đồng thời thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Việt Nam hải ngoại với các quốc gia trên thế giới. Chuỗi tiệm Bánh mì Ba Lẹ hoặc Phở Hòa là một trong những thương hiệu thành công của cộng đồng di dân. Ngoài Hoa Kỳ, Phở Hòa xuất hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới, Canada, Taiwan, South Korea, Philippines, Malaysia. Những đóng góp này không chỉ giúp nâng cao vị thế của dân tộc Việt Nam trong cộng đồng quốc tế mà còn góp phần khẳng định hình ảnh một Việt Nam sáng tạo và năng động.
3. Phụ nữ Việt trên vùng đất mới
Tại Việt Nam, phụ nữ thường được xem là “nội tướng,” người giữ gìn và xây dựng nền tảng gia đình. Họ đảm nhận vai trò chăm sóc, nuôi dạy con cái, và tổ chức đời sống sinh hoạt hàng ngày. Mâm cơm Việt Nam bởi thế không chỉ là nơi sum họp gia đình, mà còn là lớp học hằng ngày. Nơi đây, người mẹ dạy dỗ con cái những giá trị cốt lõi Việt Nam như nhân ái, trung thực, và hiếu nghĩa.
Khi đặt chân đến những quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa Tây phương, người phụ nữ Việt nhanh chóng thích nghi với môi trường mới. Họ vẫn tiếp tục giữ vai trò nền tảng trong gia đình. Nhưng họ cũng bước ra ngoài xã hội để cùng chồng gánh vác trách nhiệm kinh tế. Trong hoàn cảnh di dân đầy biến động như đã diễn tả ở trên, phụ nữ Việt di dân thường trở thành điểm tựa vững chắc trong việc gìn giữ hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái thành đạt, và truyền lại các giá trị văn hóa truyền thống giữa bối cảnh xã hội địa phương mới.
Đặc biệt hơn nữa, nhiều phụ nữ Việt di dân đã vượt qua rào cản ngôn ngữ, văn hóa và kinh tế để hội nhập và phát triển nhanh chóng tại quê hương thứ hai. Với căn tính Việt đặc thù, họ dành nhiều thời gian và nỗ lực để học hành và nâng cao tri thức như một con đường tiến thân. Nhờ đức tính kiên trì, chăm chỉ và tinh thần ham học, phụ nữ Việt ở hải ngoại đã đạt được nhiều thành công ấn tượng. Phụ nữ Việt di dân hiện diện trong các vai trò như bác sĩ, giáo viên, nghệ sĩ, doanh nhân, và nhà hoạt động xã hội, thí dụ, khoa học gia Dương Nguyệt Ánh.[2]
Là một hình mẫu về nghị lực, sự khéo léo và lòng kiên trì, phụ nữ Việt di dân trở thành tiếng nói tích cực và mạnh mẽ trong các tổ chức xã hội, các phong trào bảo vệ quyền lợi người di cư, và thúc đẩy công bằng xã hội. Họ là những nhân tố không thể thiếu trong quá trình xây dựng một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau tại quê hương thứ hai của cộng đồng Việt di dân bởi biến cố 75.
4. Hình thành bản sắc văn hóa mới
Quá trình di cư và định cư đã góp phần tạo nên một bản sắc văn hóa đa chiều và độc đáo trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Bản sắc này không chỉ là sự bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam mà còn là sự hòa quyện và thích nghi với môi trường văn hóa mới, tạo nên một diện mạo đa văn hóa, giàu sức sống và năng động.
Cộng đồng người Việt hải ngoại đã xây dựng nên các không gian sinh hoạt đặc trưng như các lễ hội truyền thống, nhà thờ, chùa chiền, các trường học tiếng Việt tại quốc gia tái định cư. Những hoạt động này không chỉ giúp giữ gìn ngôn ngữ và phong tục tập quán, mà còn tạo nên sự gắn kết cộng đồng, giúp các thế hệ trẻ hiểu và trân trọng cội nguồn của mình trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa mới còn thể hiện qua sự giao thoa, tiếp thu các yếu tố văn hóa của nước sở tại, tạo nên một nền văn hóa đa sắc màu, đa tầng lớp. Thế hệ trẻ người Việt sinh ra và lớn lên ở nước ngoài không chỉ mang trong mình di sản văn hóa Việt mà còn mang đậm dấu ấn của xã hội đa văn hóa, từ đó phát triển một cảm thức dân tộc mới, thí dụ, Việt-Mỹ, Việt-Úc. Thế hệ gạch nối (-) này vừa giữ gìn truyền thống, vừa hòa nhập sáng tạo. Đoàn trống La San San Jose bao gồm nhiều thành viên của thế hệ gạch nối, với những chương trình văn hóa tổ chức hằng năm. Tết Nguyên Đán do thế hệ gạch nối tổ chức mỗi dịp xuân về trở thành sự kiện lớn tại Quận Cam, San Jose, thu hút hàng chục ngàn người mỗi năm, không chỉ người Việt mà cả bạn bè quốc tế.
Cộng đồng người Việt hải ngoại bởi thế không chỉ là cầu nối văn hóa giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới mà còn là minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ, sự năng động và khả năng thích nghi của người Việt trong hành trình di dân đầy thử thách.
5. Tới cộng đồng thiểu số và thế giới toàn cầu
Một đặc điểm nổi bật của người Việt di dân là họ không dừng bước chân sau khi định cư tại Mỹ, Canada, Úc hay các nước châu Âu. Sau khi đã ổn định cuộc sống và gặt hái được những thành công nhất định tại quê hương thứ hai, nhiều người Việt tiếp tục “di dân.” Họ lên đường đi tới các cộng đồng thiểu số tại quốc gia sở tại. Có người thậm chí còn rời bỏ quốc gia tái định cư để đến các quốc gia vùng ngoại biên. Nơi vùng đất “di dân mới,” họ phục vụ và sẻ chia tri thức, kinh nghiệm, và các giá trị đã tích lũy được trên vùng đất di dân.
Về trường hợp thứ nhất, quốc gia sở tại, nhiều di dân Việt Nam, sau khi đạt được những cột mốc về học vấn và sự nghiệp, đã rời bỏ vùng an toàn để sống và phục vụ người thiểu số tại Hoa Kỳ. Thí dụ, cộng đồng người Mỹ gốc Phi Châu tại tiểu bang Illinois, Indiana, New Orleans, Lousiana. Đặc biệt tại tiểu bang California, nơi có mật độ người gốc Mễ và Nam Mỹ cao, nhiều linh mục, tu sĩ gốc Việt di dân Dòng Ngôi Lời (SVD), đang âm thầm hoạt động mục vụ người nghèo tại các giáo xứ nói tiếng Tây Ban Nha.
Không chỉ dừng lại ở biên giới quốc gia thứ hai, nhiều người Việt di dân còn tham gia vào các tổ chức quốc tế như Peace Corps. Họ tình nguyện đến các vùng ngoại biên ở châu Phi để sinh hoạt trong lãnh vực giáo dục, y tế hoặc phát triển cộng đồng. Nhiều di dân Việt rời bỏ Hoa Kỳ để đấu tranh cho quyền lợi của cô dâu và công nhân Việt tại Đài Loan, hoặc công nhân Việt tại Thái Lan. Một số di dân Việt khác dấn thân trong các hoạt động mục vụ với Thổ dân tại Úc, những người bị mất căn tính ngay trên quê hương hơn 40 ngàn năm. Hoặc đảm trách vai trò giáo dục đào tạo tại Papua New Guinea, một nơi hệ thống giáo dục và xã hội vẫn đang cần được xây dựng và củng cố.
Sự hiện diện và đóng góp của di dân Việt ở khu vực ngoại biên, tại quốc gia sở tại hoặc nước thứ ba trên thế giới, thể hiện chiều sâu của tinh thần “vượt thoát,” “tri ân,” và “ban tặng,” của một cộng đồng di dân từng trải qua đau thương, nhưng vẫn không ngừng dấn thân phục vụ nhân loại.
Với tinh thần ấy, cộng đồng người Việt di dân không chỉ đang tái định nghĩa khái niệm “thành công,” mà còn góp phần tích cực trong việc cổ võ nét nhân bản giữa lòng thế giới đa văn hóa. Di dân Việt Nam trở thành cầu nối giữa các nền văn hóa. Họ là minh chứng sống động cho khả năng vươn lên, thích ứng, và sẻ chia của con người Việt Nam trong thế kỷ 21. Những nỗ lực ấy cho thấy tinh thần trách nhiệm và cái nhìn toàn cầu của người Việt di dân. Họ không chỉ hướng về lợi ích cá nhân mà còn sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển chung của thế giới ngôi làng toàn cầu.
6. Nền tảng cho di dân Việt Nam trong tương lai
Phân tích sâu hơn, có thể thấy rằng cộng đồng người Việt tại Mỹ, Úc, Canada và các quốc gia Tây phương hình thành sau biến cố 75 đã không chỉ dừng lại ở việc định cư sinh tồn, mà còn đóng vai trò như những nền tảng vững chắc cho các làn sóng di dân từ Việt Nam trong những thập niên tiếp theo.
Những người Việt di dân bởi biến cố 75 đã phải bắt đầu từ con số không: ngôn ngữ, văn hóa, tài chính và chỗ đứng xã hội. Tuy nhiên, với nỗ lực vượt bậc và tinh thần đoàn kết, họ đã từng bước xây dựng được những cộng đồng ổn định, có bản sắc, và có tiếng nói trong xã hội sở tại. Chính những cộng đồng này, với các nhà thờ, chùa, siêu thị, trường Việt ngữ, tổ chức hội đoàn, và doanh nghiệp do người Việt điều hành, đã trở thành nền móng quý báu cho các thế hệ di dân Việt Nam đến sau. Những nền tảng này không chỉ giúp người Việt mới đến thích nghi dễ dàng hơn, mà còn tạo điều kiện để họ đóng góp vào xã hội mới một cách hiệu quả và bền vững. Thay vì phải xây dựng lại mọi thứ từ đầu, người Việt đến sau có thể bước vào một cấu trúc xã hội đã được thế hệ di dân năm 75 hình thành. Trên nền tảng này, di dân tới sau dễ dàng tiếp cận dịch vụ, tìm việc làm, kết nối cộng đồng, đồng thời gìn giữ bản sắc dân tộc.
Bởi thế, những khu vực như Little Saigon ở Quận Cam và Vietnam Town ở California, Cabramatta ở Sydney, hoặc khu Côte-des-Neiges ở Montreal không chỉ là “khu Việt Nam” với ý nghĩa địa lý, mà đã trở thành biểu tượng của sự sống còn và hội nhập. Những “Vietnamese Towns” này không ngừng phát triển về quy mô và chiều sâu. Từ nơi ở của người tị nạn, chúng đã trở thành trung tâm sinh hoạt kinh tế, văn hóa và chính trị của cộng đồng người Việt hải ngoại. Đồng thời, chúng đóng vai trò cơ sở cho thế hệ Việt Nam di dân tiếp theo.
Như vậy, hành trình của người Việt sau năm 1975 không chỉ là lịch sử của một cuộc ra đi, mà còn là lịch sử của việc xây dựng nền tảng cho tương lai, một tương lai mà người Việt khắp năm châu có thể tiếp tục đồng hành, nâng đỡ và phát triển trong tinh thần “đồng bào” của truyền thuyết chung một bào thai của trăm trứng.
V. Kết luận
Di dân không phải là điều xa lạ đối với người Việt. Tuy nhiên, làn sóng di dân sau biến cố 1975 đã viết nên một chương đặc biệt trong lịch sử hiện đại của Việt Nam. Họ là di dân chính trị bởi những thay đổi về thể chế chính trị sau ngày 30 tháng 4 năm 75, biến cố đã buộc nhiều người Việt phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm sự sống và tự do. Dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ hành trình vượt biển đầy hiểm nguy đến những thử thách tại vùng đất mới như rào cản ngôn ngữ, sự khác biệt văn hóa, nỗi cô đơn và tâm thức ly hương, những người Việt di dân vẫn vươn lên mạnh mẽ. Họ nổi bật với nét vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa hòa nhập vào xã hội mới, đóng góp tích cực trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học, và văn hóa. Họ thể hiện một cách rõ nét tinh thần bất khuất, lòng nhân ái và khát vọng vươn lên, những giá trị cốt lõi làm nên sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam.
Biến cố 75 không chỉ đánh dấu một cuộc chuyển dịch dân cư quy mô lớn. Di dân 75 còn mở ra một bước ngoặt lịch sử, thời kỳ bước ra khỏi lũy tre thôn làng, để hội nhập vào thế giới toàn cầu. Hành trình tỵ nạn di dân chất chứa những thử thách cam go lẫn những cơ hội đổi đời. Chính nét song hành ấy đã tiếp tục tôi luyện nên bản lĩnh, nét linh hoạt và năng động cùng tinh thần không ngừng vươn lên của cộng đồng Việt di dân trên khắp năm châu. Người Việt di dân biến cố 1975 là một minh chứng sống động cho tinh thần vượt khó và khát vọng vươn xa, khởi nguồn từ tổ phụ tổ mẫu Lạc Long-Âu Cơ, của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Trung Tây
-------------------------
-------------------------
[1] James Nguyen, Vietnamese Boat People, https://www.voicesintoaction.ca/Lessons/Unit4/Chapter2/?utm_source=chatgpt.com (accessed June 23, 2025).
[2] Lê Ngọc Châu, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh Là Ai? (24.02.2011), https://vietbao.com/a167619/khoa-hoc-gia-duong-nguyet-anh-la-ai?utm_source=chatgpt.com (accessed June 23, 2025)





Tự hào quá đáng về dân tộc VN. Thực tế thì nguời VN đổ xô ra đi tị nạn hay xuất khẩu lao động, lấy vợ chồng nuớc ngoài vì không sống nổi với đa số nguời VN. So với dân Ðức thì dân VN thua xa vì Ðức thống nhất không một tiếng súng, không tù cải tạo, không đánh tư sản, không tịch thu tài sản, không đi kinh tế mới, không sa thải nhân viên chế độ cũ, nhập học hay xin việc không cần lý lịch. Khi nguời Mỹ chấm dứt chiến tranh Nam Bắc khoảng 200 năm truớc họ cũng đối xử quân tử, ai về nhà nấy làm ăn, công viên tượng đài kỷ niệm, nghĩa trang quân miền Nam đều đuợc bảo tồn. Tổ tiên Lạc Long Quân Âu Cơ phải xấu hổ khi hậu duệ nguời Việt tiểu nhân sau khi thống nhất.
"Retirement Math Is Failing Homeowners: Goldman Sachs Warns of a Growing ‘Financial Vortex’, Realtor.com
"...but a new report from Goldman Sachs found that about 4 in 10 U.S. workers—from Gen Z to Gen X—are living paycheck to paycheck, and nearly three-quarters struggle to save for retirement. If nothing changes, more than half of all workers could be living paycheck to paycheck by 2033."
Hai muơi năm chiến tranh khốc liệt, khoảng 300 ngàn quân VNCH tử trận. Nhưng sau khi hết chiến tranh thì có thêm hơn 500 trăm ngàn chết trong traị cải tạo, kinh tế mới nhiều hơn số tử trận. Cả thế giới lầm tuởng hoà bình chấm dứt đau thuơng cho Nam VN nhưng không đúng vậy. Tây Ðức sáp nhập thống nhất với Ðông Ðức mà không có tổn thất nhân mạng, không ai đi cải tạo, dân Ðông Ðức không ăn độn khoai sắn bo bo, dân Ðông Ðức không ai đi qua các nuớc Cộng Sản tị nạn. Cái nghiệp của nguời VN nặng, nên sau khi hết chiến tranh thì lại tiếp tục chết, số chết vì đói trong trại cải tạo, vùng kinh tế mới, trên biển cả rất nhiều. Nuớc Ðức thống nhất giàu mạnh hơn, VN thống nhất tang thuơng hơn. Ngay cả những nguời miền Nam có công giúp Cộng Sản, chửi bới đế quốc Mỹ như nghệ sĩ Kim Cuơng, Duơng Văn Minh, Ðoàn Văn Toại, Nguyễn Văn Hảo, và các hung thần an ten đánh đập tù cải tạo, lập bàn thờ Hồ Chí Minh và đốt phá trại tại Guam đòi trở về VN năm 1975, con cái cán bộ CS du học, kinh doanh tại Mỹ ... chạy qua Mỹ sống, khai dối trong hồ sơ xin di trú là mình không có liên hệ với Cộng sản và tuyên thệ trung thành với nuớc Mỹ khi xin nhập quốc tịch.
Thay vì tổ chức hay ngầm giúp đỡ gia đình quân cán chánh di tản, lãnh đạo VNCH lại cản trở di tản hay cổ võ luờng gạt là CS hoà giải hoà hợp, nối vòng tay lớn. Ðại Tá HQ Nguyễn Xuân Sơn bị cách chức Tư Lệnh Hạm Ðội khi có tin ông tổ chức di tản truớc khi CS vào Sài gòn. Duơng Văn Minh khi lên nhậm chức TT 28/4/75 đã kêu gọi trên đài phát thanh mà tôi nghe đuợc 'Ðồng dào đừng bỏ nuớc mà đi' , cựu Phó TT Kỳ đến giáo xứ Tân Sa Châu kêu gọi nguời VN ở lại chiến đấu đừng đi qua Mỹ vì Mỹ không có mắm tôm cà pháo để ăn. Hàng ngàn sĩ quan cao cấp và các viên chức có nợ máu với CS dù có cơ hội ra đi như Ðề Ðốc Trần Văn Chơn và con là ham truong Ðại úy Trần Văn Chánh ở lại VN để vào tù cai tao, Trung tá HQ Trần Dinh Trụ lái tàu VNTT từ Guam vơi khoảng 1000 quân cán chánh trở về VN để vào tù gần 10 năm rồi mới sáng mắt ra xin đi trở lại Mỹ. Tàu HQ 402 trên đuờng di tản nổi lọan giết thuyền truởng đem tàu về Saigon dâng CS để lập công. Nhiều sĩ quan các quân binh chủng VNCH cũng từ chối ra đi. Rot cuoc N C Kỳ bỏ giáo dân Tân Sa Châu chạy ra tàu Mỹ ngày 30-4-75, còn cac ông Minh, Mẫu vài tháng sau khi hoan hỉ đầu hàng CS cũng bỏ VN đi Pháp, ông phó TT Hảo ở lại VN để dâng 16 tấn vàng cho CS sau cũng ra đi sang định cư ở Florida.
Tháng 4/75, chánh phủ Mỹ đã cảnh cáo tắm máu tại Ðông Duơng loan tin trên đài BBC, Úc, và VOA nhờ vậy mà nhiều quân cán chánh tìm cách ra đi sớm nam 1975 thay vì ở lại trình diện cải tạo. Nhờ Mỹ la làng hô hoán tắm máu mà CSVN bị mất mặt không dám thi hành nghi quyết X1 của Ðổ Muời năm 1976 ra lệnh giết tất cả sĩ quan VNCH trong traị cải tạo. Tuy nhiên CS Khmer Ðỏ và CS Lào giết rất nhiều nguời.
Nhìn vào biến cố 1975 thì CS là những cái máy chém máy nghiền thịt nhưng lãnh đạo VNCH và phe nhóm Hoà Giải Hòa Hợp có tội với dân tộc khi lừa gạt quân cán chán ở lại VN hoà giải với CS mà ong Minh gọi là 'nguời anh em phiá bên kia' để rồi bị tù tội, đổi tiền, đi kinh tế mới, đánh tư sản, bắt vào hợp tác xã, phụ nữ đi thăm tù cải tạo miền Bắc ngủ đêm trên đuờng bị công an bộ đội hãm hiếp, ai vuợt biên thì bị công an cuớp bóc bắt giam, hải tặc tấn công. Do nghiệp còn nặng nguời VN sa địa ngục tạo ra bởi nguời CSVN da vàng.
Một lỗi nặng của chánh phủ VNCH là không cảnh cáo dân chúng là CS sẽ trừng phạt nặng nề quân cán chánh VNCH như thời cải cách ruộng đất 1954 theo mô hình cách mạng vô sản tai Nga sô và Trung Cộng, tiêu diệt tiểu thuơng, tư sản, và buộc dân vào hợp tác xã chỉ cho quốc doanh hoạt động. Vì dân miền Nam và quân cán chánh không biết truớc về các trại cải tạo kiểu gulagg Nga Sô, vô sản hoá miền Nam bằng cách đánh tư sản, ngăn sông cấm chợ nên quân cán chánh miền Nam không chịu ra đi nuớc ngoài khi có cơ hội năm 1975. Năm 1954 nguời Pháp làm phim Chúng Tôi Muốn Sống chiếu cho dân VN để cảnh cáo dân VN về hiểm hoạ CS, nhưng sau sau khi quân đội VNCH đảo chánh năm 1963 thì VNCH không còn chiếu phim này cho dân. Tác phẩm Trại Ðầm Dùn noi về chánh sách tàn ác trong trại cải tạo đuợc Nha Tuyên Úy PG xuất bản cũng không đuợc phổ biến trong quân đội VNCH. Tôi ở quân đội không hề biết có quyển sách này. Vì vậy đến 1975 thì đa số sĩ quan VNCH đi trinh diện cải tạo mà không biết là ho đi vào địa ngục của Trại Ðầm Dùn hay tù Cải Cách Ruộng Ðất. Nỗi đau khổ của hơn 2 triệu dân tị nạn VNCH va HO có thể tránh đuợc nếu cấp lãnh đạo VNCH yêu nuớc, biết thuơng dân thuơng thuộc cấp cho di tản, chu toàn trách nhiệm cảnh cáo truớc chánh sách cai tri hà khắc của CS. Tài mọn mà chức vụ cao, chí nhỏ mà lo việc lớn làm hỏng cơ nghiệp VNCH .