Ba Tôi Không Còn Nữa

10/06/200800:00:00(Xem: 356134)
Tác giả: Phạm Hoàng Chương

Bài số 2322-16208299-vb3100608

Tác giả đã góp bài viết về nước Mỹ từ năm đầu và hiện vẫn liên tục góp thêm nhiều bài viết giá trị.  Là cựu giáo sư trung học ở Việt Nam trước 1975, vượt biên đến Mỹ năm 1984, ông đi học và trở lại nghề cũ. Sau nhiều năm dạy tại một trường công lập Mỹ ở San Jose, tác giả về hưu và hiện là cư dân Riverside, Nam California. Sau đây là bài viết đặc biệt của ông, nhân mùa Father’s Day đang tới.

Đã lâu tôi muốn viết một bài về Ba, nhưng cứ mỗi lần đặt bút xuống, lại thẩn thờ, bồi hồi, ngại ngùng không có can đảm. Chỉ nghĩ về Ba thôi là một cái gì đã dâng lên cổ nghẹn ngào, hai giọt nước mắt trào ra nóng hổi, bất cứ là đang ở đâu, lúc nào, và làm gì, lái xe, đọc sách, hay đang nói phone...

Ba mất năm tôi mới 20 tuổi, sinh viên Đại học sư phạm mới năm thứ nhì ở Huế, chưa kịp làm ra đồng nào để đền ơn báo đáp Ba, cho Ba được nghỉ ngơi, an nhàn sung sướng một ngày nào. Trong khi bên này nhiều người cha tuổi thọ bảy tám mươi tuổi, có con cái làm bác sĩ, nha sĩ ân cần đón đưa trên những chiếc xe Lexus lộng lẫy, ở trong những ngôi nhà lầu cao ngói đỏ nguy nga đồ sộ, phụng dưỡng ăn uống miếng ngon vật lạ, đi du lịch đó đây. Ba chưa hề có may mắn đó. Ba chết quá sớm, mới 46 tuổi, để lại Má và một bày con 9 đứa mà tôi là chim đầu đàn ở xa, không có mặt khi ba hấp hối. Suốt đời ba chỉ là một nhà giáo nghèo, tận tụy với học sinh bao nhiêu năm, mở trường trung học tư để đào tạo mầm non tương lai cho đất nước, mơ ước trúng số nâng cao mức sống gia đình, nhưng chẳng bao giờ trúng, bỏ vốn hùn với chủ dất trồng hành tây, nhưng củ chưa kịp lớn đã chết thảm trong một tai nạn xe, trong sự thương tiếc của bao nhiêu là bạn bè, người quen trong tỉnh.

Kỷ niệm lâu đời nhất ký ức tôi còn giữ được về ba là đứa bé 3 tuổi được Má bồng trên tay đi thăm ba ở tù quân Pháp nhốt vì tình nghi hoạt động cho Việt minh. Má kể Ba vì kẹt gia đình phải ở lại, không theo chú Châu tập kết ra Bắc chống Pháp, chỉ hoạt động lén lút trong nhóm của ông Ngô khắc Tỉnh ở Ninh Thuận. Rồi ba được thả ra, hùn hạp làm ăn với bác Sáu mở tiệm bán thực phẩm cho Tây. Khi em Chung ra đời năm 1948, sau tôi 4 năm, má suốt ngày bận rộn với em,  ba lại không có anh em ruột, nên hai cha con hú hí chơi với nhau, ba giáo dục tôi từ thuở ấu thơ, kể chuyện cổ tích, chuyện đời xưa của Pháp, dạy hát các bài Thằng cuội, Chuột ăn cắp trứng, nhờ người chụp hình hai cha con khắp mọi nơi, nhất là hay dẫn tôi vào Saigon chơi bằng xe lửa. Thời kỳ đó chiến tranh Việt Pháp,  có lần đường rày bị Việt minh phá hoại, hành khách phải treo võng ngủ trong rừng ba bốn ngày,  vào nhà dân xin tắm rửa,  mua thức ăn. Trong rừng cây xanh ven đường, Ba dạy tôi hát bài "Hoa lư ca", vinh danh anh hùng Đinh bộ Lĩnh lúc bé chăn trâu,  bẻ lau làm cờ bày trò đánh giặc mà sau lên làm vua. Có lần cha con đang ngồi ăn trong toa xe thình lình hai bên Pháp và Viêt Minh đụng trận ,  bom nổ đùng đùng, đạn bay chí chóe, lật đật ba ôm chặt tôi vào mình, cùng đám hành khách từ trên cao nhảy xuống nằm mọp dưới sàn im thin thít.

Vào Saigon, ba hay ghé thăm nhà bà con ngoài Bắc vào, nhẹ nhàng cắt nghĩa liên hệ bà con cho tôi nghe, hãnh diện giới thiệu con trai đầu lòng, thấy ai có vẻ cũng quí ba. Nhớ những lần lẽo đẽo theo ba trên các con đường thành phố Saigon,  tay cầm nguyên cái bánh dẻo Trung thu hạt sen ba mua cho, cắn nhai ngon lành thơm phức. Những lần bị đánh thức dậy 4 năm giờ khuya, trời còn tối đen, đèn bật sáng choang, mắt nhắm mắt mở chuẩn bị theo ba lên xe tải đi Đalạt mua khoai tây cà rốt, đồ "lê ghim",  gà vịt về bán. Những chuyến đi với ba hồi đó diễn ra liên miên đến khi tôi 10 tuổi mới chấm dứt,  vì bấy giờ ba đã chuyển qua làm thày giáo, không còn đi buôn nữa. Em Chung và những đứa em sau không bao giờ có may mắn được theo ba trong những chuyến du lịch ngoạn mục như vậy. Hồi tưởng những kỉ niệm ấu thơ đó mà chảy nước mắt, biết ba thương mình đến đâu, xa con vài ngày cũng thấy nhớ, đi đâu cũng phải mang theo con cho vui, dồn hết tình thương vào đứa con, cho nó được mở mang kiến thức, biết đó biết đây.

Năm tôi lên lớp Nhì,  ba hợp tác với ông Kỹ sư Thành thuê một ngôi nhà lầu mở trường Lê Lợi, trung học tư thục đầu tiên ở Phanrang, từ đệ thất đến đệ tứ. Buôn bán chỉ là mưu sinh tạm thời, dạy học mới chính là mơ ước của ba. Đó là chí hướng của ba, muốn làm một cái gì ích lợi cho đất nước, cho dân tộc. Ba dạy Toán,  Pháp văn,  và Sử địa. Những buổi họp mặt của ba và các thầy khác, cười nói vui vẻ hòa hợp, hầu như đều có tôi. Ba dẫn tôi theo những buổi cắm trại trường tổ chức hai ba ngày liền ở các biển Hải chữ, Ninh chữ, Cà ná mát mẻ, cho tôi chơi với các anh chị học sinh trung học của ba. Các anh chị vui vẻ tử tế,  lễ phép kính mến ba, săn sóc miếng ăn chỗ ngủ cho tôi thật chu đáo. Ba thương học trò lắm, có lần anh học sinh đệ tứ (sau này là giáo sư Triết, rồi đắc cử dân biểu Ninh thuận) dại dột viết một khẩu hiệu hô hào chống Pháp dán ngoài cổng trường bị công an bắt ở tù, ba hết lòng chạy chọt vận động cho anh ròng rã cả năm mới được thả ra đi học lại.

Nhà nghèo, mẹ đau chết, không đủ tiền ma chay chôn cất,  anh đem cuốn sách tự điển dày lãnh thưởng đáng vài trăm bạc lên bán cho ba, ba cho anh một ngàn đồng đem về lo cho mẹ, sau này anh nhớ ơn, đi đâu xa về cũng ghé thăm thầy,  coi như gia đình thứ hai.

Tết năm 54, trường ba tổ chức một đêm ca nhạc kịch bán vé, khán giả rất đông,  thấy anh Luôn đóng vai Kinh Kha,  chị Nhụy vai cô gái nước Tần,  hóa trang diễn kịch "Chiến sĩ Kinh Kha" oai nghi hùng tráng trên sân khấu rạp Việt Tiến, nói lên lòng yêu nước của thanh niên thời chinh chiến,  tôi say mê nghe chị Tố Hà não nùng hát bài "Ru con" của Phạm Duy, thấy hết cái hay lãng mạn của lịch sử, cuộc sống loạn ly thời chiến cha xa con chồng xa vợ trên sân khấu học trò.

Năm lên lớp Nhất, tôi giỏi nhất lớp môn luận văn, thỉnh thoảng lại được ba gà bài làm cho hay hơn. Như tả con trâu, ba dí dỏm bảo tôi viết so sánh bụng nó to tròn như thùng rượu vang "toneau", làm thày giáo cho 8 điểm,  khen nức nở giữa lớp vì quá chính xác gợi hình. Năm học đệ thất ham chơi, làm toán sai be bét bị ba nổi nóng đánh cho một trận đòn sưng đít,  nhớ mãi không bao giờ quên. Sau trận đó ba bắt đầu bỏ thì giờ kèm tôi học một ngày mấy tiếng, ra toán hình học đại số làm, giảng giải kèm cặp hai ba năm liền.

Cuối năm đệ ngũ, ba đưa tôi vào Saigon chơi 1 tuần, ở nhà lầu villa của cô Năm,  con ông bác Vi, có chồng làm luật sư giàu lắm nhà ở đường Trần quí Cáp, có tài xế lái xe,  có người chăm lo vườn tược,  có hai ba người nấu ăn hầu hạ. Tôi đi theo ba ngoài phố, thấy có người bà con nghèo gầy hốc hác tới lí nhí xin tiền ba, ba ái ngại cho một trăm. Khi họ đi rồi, ba kể người đó ngày xưa nhà khá giả,  chỉ vì lười biếng không chịu học hành làm ăn gì cả mà lớn lên phải lây lất đi xin như vậy,  con phải lấy đó làm gương mà chăm chỉ học hành. Tôi so sánh cuộc sống vinh hoa phú quí của ông dượng luật sư và người bà con khép nép xin tiền, nhớ mãi lời ba ân cần dạy, tâm niệm luôn cố gắng học. Lên đệ tứ, tôi bắt đều lớn vọt lên, trổ mã, xuất sắc nhiều môn,  đứng nhứt lớp và đỗ thủ khoa kỳ thi thử trung học đệ nhứt cấp tổ chức cho cả hai trường công và bán công trong tỉnh,  ai cũng khen "con thầy giáo có khác".

Lúc đó trường Lê Lợi đóng cửa, ba được ủy nhiệm làm hiệu trưởng trường bán công Nguyễn công Trứ và dạy Sử địa cả bên công lập Duy Tân. Năm đệ tam, tóc tôi ra dày quá, phủ cả xuống trán, ba đưa tôi tới tiệm hớt tóc nổi tiếng nhất trong tỉnh, yêu cầu cắt xấy ép tóc cho gọn và mỹ thuật.. Ba hãnh diện thấy con trai đầu cao lớn,  đẹp trai, học giỏi. Cả nhà đi chụp ảnh, ba cứ cầm tấm ảnh 3 anh em trai chụp chung, tấm tắc khen tôi đẹp trai nhất nhà,  treo tấm hình trên bàn làm việc. Tôi giỏi văn chương sinh ngữ, không chịu học ban A và B, đòi vào Saigon học ban C. Má không chịu, sợ đi xa không có cha mẹ một bên, dễ hư hỏng, tôi giận Má mấy tháng không nói chuyện. Ba thấy tội, cho vào Saigon học hè Pháp văn hai tháng,  rồi sau đó không hiểu thuyết phục Má cách nào mà mang tôi vào gửi ở trọ nhà ông bác họ ớ quận Một, học lớp Nhị C trung học tư thục Nguyễn văn Khuê. Ban C chỉ có lớp đêm, lại là tư thục,  toàn người lớn học, cả năm chả có trả bài hay thi cử gì cả nên tôi làm biếng hay "cúp cua" tối thứ bảy để chưng diện áo quần,  tóc tai, đi phòng trà nghe hát,  hay đi xi nê với bạn, với bà cô, ông bác trong nhà,  hơn tôi có bốn năm tuổi. Khi tôi đậu phần viết tú tài Một, Ba mừng rỡ vào Saigon hớn hở đãi cả nhà đi ăn một chầu thịnh soạn. Đến khi tôi hỏng cả hai kỳ vấn đáp, lủi thủi ở Saigon về,  đứng ngoài cửa sau thật lâu không dám gõ cửa,  ba cũng không la mắng gì,  chỉ thất vọng dơ hai tay lên trời than với má một câu rồi không bao giờ nhắc tới nữa. Chẳng thà ba nổi trận lôi đình, đánh một trận đòn chí tử như ngày còn bé còn làm tôi sung sướng hơn. Ba chỉ buồn buồn, yên lặng. Dáng ba gầy gò, hiền lành, chịu đựng. Sự bao dung và yên lặng của ba chỉ làm tim gan tôi thêm xót xa tủi hổ, ăn năn hối hận. Tôi đã không xứng đáng với sự nuông chìu, lòng tin cậy mong đợi của ba, đã nuôi bầy em đông còn nhỏ dại, lại còn hy sinh tiền của cho tôi vào Saigon ăn học. Mười bảy tuổi, tôi đã hiểu thế nào là tình thương vô bờ cha mẹ dành cho con, bổn phận con cái phải làm sao cho xứng đáng với lòng hy sinh ấy.

 Ra Nha Trang học lại đệ nhị C trường công Võ tánh, muốn chuộc lại lỗi lầm, tôi đạp xe đi kèm trẻ ban đêm không cho ba má hay để kiếm tiền phụ bớt tiền trọ học ba má gửi hàng tháng. Nhưng ba hay được, không cho, nói "ba má còn đủ sức lo được,  con cứ lo học cho giỏi",  chỉ sợ tôi lại thi rớt lần nữa. Thế là tôi đậu tú tài một, rồi qua năm sau, đậu luôn tú tài 2 với cả 2 kỳ vấn đáp một cách dễ dàng. Cuốn báo Xuân trường Võ tánh có đăng bài tôi viết cùng với các bài các giáo sư khác đem về khoe ba, ba chăm chú đọc, tủm tỉm cười không nói gì. Tôi biết tôi đang lấy lại lòng tin của ba. Ba đang chấm thi ngoài Nhatrang, hãnh diện dẫn tôi đi ăn chung với các thày cô giáo đồng nghiệp ba,  vui cười hể hả. Hồi ấy nhiều thày cô là học sinh Lê lợi cũ ngày xưa của ba, cũng chỉ có bằng tú tài hay dự bị văn khoa đã đi dạy được.

Rồi ba đưa tôi lên Dalat thi Đại học sư phạm ban Pháp văn,  qua hôm sau lại đưa tôi ra phi trường Liên Khương bay ra Huế thi tiếp Đại học sư phạm Huế. Tôi lo lắng chưa bao giờ tới Huế, ba dạy câu "Đường đi ở miệng" mà tôi nhớ đời. Ba đưa một lá thư tôi cầm tới người chủ trọ,  do một đồng nghiệp ba viết giới thiệu. Ba nói không có chi phải lo sợ, hỏi thì thế nào cũng tìm ra chỗ, trước lạ sau quen. Tôi bước lên máy bay, ngoái cổ nhìn theo dáng ba gầy gầy nghiêng ngiêng trên đường về. Kết quả tôi đậu Đại hoc Sư phạm Huế 4 năm,  sắp hạng 20 trên 30, có học bổng 1000$ 1 tháng. Ba tươi cười rạng rỡ. Ba tâm sự ngày xưa ba mới có 9 tuổi đã mồ côi mẹ,  17 tuổi đã mồ côi cha, 27 tết năm đó ba đi học ở Hànội về quê, thấy ông nội nằm liệt giường hấp hối, trong nhà túng quẫn, hoàn cảnh rất là bi thảm. Trong bóng tối lờ mờ của căn phòng ba làm việc, tôi lờ mờ hình dung ra cảnh tượng thê lương lạnh lẽo ấy trong đầu, nghe ba tâm sự được ông cậu nuôi đi học, mỗi chén cơm ăn chỉ được một miếng đậu hủ rán chấm tương chan nước rau luộc mà thấy thương ba vô cùng.

Tôi may mắn hơn ba nhiều, lớn lên ở miền Nam sung túc, ăn uống thoải mái, có cha mẹ lo cho ăn học lên đại học đầy đủ. Báo Xuân trường DHSP Huế đem về Tết đó tôi lại dem khoe ba,  vì có truyện ngắn tôi viết trong đó, Ba đưa tôi lên trường ba chơi, thư ký nhân viên văn phòng ai cũng kêu tôi bằng "thầy" và kêu ba bằng "cụ". Có một lần ba đau nặng luôn mười ngày,  tôi và má quanh quẩn hầu hạ thuốc men, tôi cứ lo sợ ba chết. Sau đó ba bỏ hẳn thuốc lá,  thuốc lào. Ba đối xử với tôi như người lớn, những lúc cha con ngồi bên nhau không có ai, ba khuyên khoan sớm có bạn gái,  chờ ra đi làm phụ ba lo cho các em một thời gian đã. Tôi hiểu tâm sự của ba, nghĩ đến bầy em đông ngày càng lớn mà ba còm cõi đi dạy hoài không biết bao giờ mới được nghỉ ngơi.

Ngày xưa ba hay đi đánh tennis sau giờ dạy ở trường về, rồi khám bài vở homework tôi làm ở nhà, bây giờ lớn tuổi tối tối ba hay nghe đài BBC theo dõi tin tức chính trị, chủ nhật ba xoay ra đánh bài tổ tôm để tiêu khiển với mấy người bạn thân, lười xem xét bài vở học hành mấy đứa em tôi. Có lần được nghỉ lễ mấy ngày, ba dẫn tôi ra Trại Cá ở Cam ranh chơi mấy ngày để ăn cá hấp và hưởng thú thiên nhiên nhàn nhã, tôi ở được có một ngày một đêm thì buồn chán quá. Tuổi trẻ thích ồn ào vui nhộn, tôi nhớ thành phố, bạn bè, đòi về, bỏ ba một mình trong mấy cái chòi tranh vắng ngắt trên mặt nước, ra đường cái đón xe về lại Phanrang. Nhiếu năm về sau, qua Mỹ, đêm khuya chờ cửa con trai lớn hay đi chơi đêm với bạn bè gần sáng mới về, buồn thấy con thích gần bạn bè hơn cha mẹ, tôi mới hiểu thấu tâm trạng cô đơn của ba, cần sự có mặt của đứa con lớn bên mình để an ủi lúc bấy giờ, nhớ tới ngày bỏ ba lủi thủi ở lại cái nhà sàn của quán ăn Ngọc Sương trên bờ biển Ba Ngòi đìu hiu năm nào, mà hối hận khóc chảy nước mắt. Lúc đó nhìn tôi bỏ về, chắc ba buồn lắm mà tôi nào có biết.

Có làm cha, thương con, mới hiểu hết lòng cha mẹ. Bây giờ ba còn đâu nữa mà chuộc lại lỗi lầm xưa, muốn sống lại thời gian ấy, ở lại chốn quạnh hiu ấy làm bạn với ba mười ngày đi nữa cũng không thể nào được.

(còn tiếp một kỳ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 806,086,881
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Khanh con gái bà chị họ của tôi, sinh năm Nhâm Tý xuân này tròn 48 tuổi, ông bà mình bảo, Nam Nhâm, Nữ Quý bảnh nhất thiên hạ. Mẹ nó tuổi Quý Tỵ, khổ như trâu, một đời vất vả gánh vác chồng con, con bé tuổi Nhâm mạnh mẽ như con trai nhờ ông ngoại hun đúc từ tấm bé.
Nhìn hai cây sồi cổ thụ ngoài ngõ cũng đủ biết căn nhà đã trả hết nợ từ lâu. Hai cái xe Cadillac của người già không lên tiếng nhưng nói biết bao điều về nước Mỹ. Khi còn trẻ thì người ta không có tiền để mua những cái xe đắt tiền như Cadillac, Lincoln. Những cô cậu thanh niên mắt sáng, chân vững tay nhanh, chỉ đứng nhìn theo những chiếc xe bóng loáng, mạnh mẽ…
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả
Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa Sau đây là bài viết mới nhất của Ông nhân ngày lễ Tạ ơn
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi, thấy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7/2018, với bài “Thời Gian Ơn, Ngừng Lại”. Tên thật: Nguyễn Thị Kỳ, Bút hiệu: duyenky. Trước 30.4.1975: giáo viên Toán Lý Hoa-Tư thục-Saigon-VN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.