Hôm nay,  

Yellowstone Du Ký

07/11/202500:00:00(Xem: 1388)

Nhóm bạn Bút Tre tại Yellowstone
Nhóm bạn “Bút Tre” nơi công viên quốc gia Yellowstone
Giang hồ vốn chẳng vẹn đầy – Người đi kẻ ở, hẹn ngày gặp nhau”
  
Nguyễn Văn Tới - Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018, giải Vinh danh Tác Phẩm 2019 và giải Vinh danh Tác giả-Tác phẩm 2021. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ông định cư tại Mỹ từ 1990, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Tiếp nối những bài viết vui và giá trị, kỳ này là một bài bút ký về chuyến du lịch kỳ thú ở Yellowstone cùng nhóm bạn “Bút Tre” của ông.
 
***
Đất trời Arizona giữa tháng 9 vẫn như một chảo lửa. Ông trời dường như đang mê tu luyện môn “Cửu Dương Thần Công”, phóng hỏa lực ba con số xuống cõi hồng trần. Bầu trời xanh lơ mà mặt trời như ngủ quên, vẫn đều đều rải xuống trần gian cái nắng nóng đến nhão cả người, vạn vật như chảy ra thành một chất lỏng đặc sánh; con người rũ rượi, nhễ nhãi mồ hôi, hằng ngày vật vã bên cái máy “ây-xi” ráng sống sót, mong hạ đi, đón thu về. Nhóm Bút Tre bèn quyết định chạy trốn lên vùng cao, lên tận Hoàng Thạch Sơn, tức Núi Đá vàng, Yellowstone National Park. 

Hoàng Thạch Sơn là một vùng cao nguyên rất đặc biệt và nổi tiếng thế giới, được thành lập vào năm 1872 ở Hoa Kỳ. Công viên rộng 3,472 dặm vuông (8,991 Km2), nằm hầu hết ở phía Tây Bắc Wyoming, gần tiểu bang Montana và Idaho, diện tích lớn hơn tiểu bang Delaware. Nó nổi tiếng nhờ những cột nước nóng phun trào tự nhiên, những giòng suối nước nóng, thác nước đổ ào ạt; lại có thêm rất nhiều loại thú hoang, đặc biệt nhất là Bò Tót, Bison.

Nó khác thường nhờ nằm trên một siêu núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới. Du khách có thể rảo bước kế bên những giòng nước nóng nghi ngút khói tỏa, bên dưới là những hầm ngầm khổng lồ chứa đầy chất lỏng đá tan chảy đang sôi ùng ục, nhiệt độ trung bình 1,800 -2,200 F, cộng thêm áp suất rất cao, lúc nào cũng như muốn trồi lên khỏi những vết nứt trên mặt đất.

Chúng tôi bèn cỡi mây đạp gió bằng hãng hàng không giá rẻ Allegiant, mà ít tiền thì không thể nào “ngon, bổ, rẻ” với hàng loạt luật lệ khắc khe, khiến chúng tôi phải dùng đến 72 phép thần thông của Tề Thiên đại thánh, biến hóa khôn lường, sao cho nguồn ngân lượng bớt bị tiêu hao.

Trong chốn bằng hữu võ lâm lũ lượt di hành ra khỏi đại hoang mạc A-Lý-Xô-Na, lữ khách ai nấy nai nịt gọn gàng, áo ngắn, quần sọc; chỉ riêng 8 vị tỷ huynh đệ phái Bút Tre, vai mang trường kiếm, đầu bịt nón len, chiến bào chồng 3, 4 lớp, nhứt là tí cô nương Tiểu Vy, đầu đội thêm cái mão lông gấu Trúc “ma dê in” Tung Của, uy phong chẳng khác gì chưởng môn phái … Thảo Cầm Viên. Vài tay kiếm khách giang hồ, người tò mò, kẻ ngơ ngác, tưởng bang phái chúng tôi bị chạm dây …  điện; vài đại hán râu hùm hàm én, mắt ốc bươu nhướng lên, buông lời xách mé:

- Chẳng hay các hạ người quê quán nơi nao? Môn phái nào? Hay các hạ người từ cao nguyên Tây Tạng lạnh giá mới xuống núi? Lối ăn mặc của các hạ làm cho chúng ta đây cũng muốn … hâm lây.

Chúng tôi vòng tay, đáp lễ, dùng thổ ngữ bản địa để an dân bá tánh, mong thiên hạ không hiểu lầm:

- Chúng hạ thuộc môn phái Bút Tre, tên Tây là Bamboo Pen, vốn người cõi trên … nghĩa là trên cao nguyên mới vừa hạ sơn, chưa kịp cởi áo bào thì phải tiếp tục hành trình đi lên cao nguyên Đá Vàng (Yellowstone), nên để nguyên quần áo cho tiện, khỏi mất thời giờ đó mà.

- À ra vậy! Chúng ta cứ ngỡ các hạ mới vừa từ tâm thần viện bước ra nên có lời khiếm nhã, mong các hạ ban cho hai chữ đại xá. Thật là biết ơn lắm lắm.
Miệng không hề nhúc nhích, chàng Diệu Thủ Thư Sinh Hoàng Nam dùng phép Truyền Âm Nhập Mật đáp lại, tiếng vang như sấm:

- No star where, no star where (không sao đâu).

Lời vừa thoát ra khỏi miệng thì khách giang hồ như bị một luồng kình phong đẩy bật lại phía sau, hồn phi phách tán. Thiệt là chốn giang hồ nguy hiểm, khó lường. Nhưng “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Cha ông mình đã dạy chí phải! Nhìn lại mình mới thấy quả là phe ta ăn mặc hổng giống ai, làm như sắp sửa đi thám hiểm vùng Nam Cực. Trời thì nóng đổ lửa, mà huynh đệ, tỷ muội mình thì cứ áo lông chồn, nón lông gấu trúc, vậy mà chưa ai bị hâm, cũng còn may mắn dàn trời.

Ngày đầu tiên hạ cánh xuống phi tràng Idaho, trời cũng đã về chiều, lật đật lo đi mướn 1 con ngựa sắt làm phương tiện đi lại cho nhanh, chứ môn khinh công “Lăng Ba Vi Bộ” học trên núi đem ra xử dụng nơi đất lạ, người cũng lạ, coi bộ hổng hạp; còn nếu hà tiện mà thi triển môn khinh công này, e rằng tới nơi chỉ còn cái xác không hồn. Vậy mà khi tới khu rừng ngoại vi, nơi lập bản doanh chính, tiếng trống canh đã đổi qua canh một gà gáy sáng. Ai nấy mệt đừ, lạnh run vì phải dò dẫm trong rừng tối đen, may nhờ đôi mắt sáng của con Thiết Tuấn Mã soi đường mà lần mò kiếm ra chỗ lều Tipi đã được dựng sẵn.     

Dùng phép thiên lý nhãn rà soát một vòng tròn 360 coi địa hình ra sao, sau đó kiếm đến chốn tẩy rửa bụi trần. Trời lạnh teo, âm khí dâng cao như đang lạc vào Băng Hỏa Đảo, nhiệt độ rơi xuống đến 35 F, vài huynh muội không dám chà răng rửa mặt, chui đại vô mền, vài người can đảm hơn, thò ngón tay dưới vòi nước, ngón tay lạnh cứng như đang luyện “Huyền Băng Trường Thành”, bèn thi triển phép khinh công trở lại tấm lều vải nhanh như cắt, tự an ủi thôi để mai cũng chưa … bốc mùi.

Cái lạnh ở đây kỳ quái lắm, lạnh từ trong ruột lạnh ra. Quần áo để nguyên, đắp thêm 2, 3 lớp mền mà vẫn còn lạnh. Không dám trở mình vì hở chỗ nào là hàn khí xâm nhập chỗ đó. Phần vì đường xa vạn dặm, mệt mỏi, nên ai nấy nằm im re; một hồi sau, tiếng “kéo gỗ” lẫn tiếng “cưa máy” vang rền, nhịp nhàng bản hợp tấu Concerto Sonata, bên trong túp lều tranh có 8 trái tim vàng.

Sáng hôm sau tỉnh giấc Nam Kha, khí sắc tuy có hồng hào hơn trước, nhưng hai hàm răng vẫn còn gõ vào nhau nghe lạch cạch, người này ngần ngại nhìn người kia. Cuối cùng môn phái Bút Tre phải dùng phép Thần Điệp Thoát Xác chui ra khỏi đống chăn mền ngổn ngang vọt đi rửa mặt và tắm gội. May thay, mấy tên tiểu đồng trong trang trại đã chịu khó mở vòi nước nóng, ai nấy vổ tay hoan hỉ như gặp được kỳ trân dị bảo, bèn thay nhau gột sạch bụi trần.


Tắm xong, nhẹ đi cả ký lô đất bụi bám trên người từ con đường thiên lý đã đi qua, ai nấy thấy nhẹ nhõm, ghé qua lều Dã Thảo sát bên, một tên tiểu đồng đã chờ sẵn với bình cà phê A-Mễ-Li-Can bốc khói. Chiêu một ngụm, một luồng kình lực chạy xẹt qua mạch Nhâm Đốc, cảm nhận rõ một hơi nóng từ cổ họng chạy xuống tới đơn điền, chạy tới đâu, sướng tới đó, mắt sáng quắc, lòng phơi phới, đã ơi là đã!

Về lại Tipi đại bản doanh, ai nấy đói bụng, ngặt nỗi tửu lầu quá xa, nên phải moi ra khẩu phần lương khô là gói xôi dừa đậu đen mà đại sư tỷ “chị Tư” cất công nấu trước lúc rời núi. Tuy có hơi cứng một chút, tại hạ cũng xơi gần hết, bỏ sợ tội và sợ phụ công sức thức khuya dậy sớm của đại sư tỷ.

Nói về đại sư tỷ “chị Tư”, vốn xuất thân từ hoang đảo xa xôi miền Cai Lậy, tỷ học được công phu nấu nướng thượng thừa theo chi nhánh miệt vườn, nấu cái gì cũng ngon; lại còn được sư mẫu truyền cho môn “Cạo Gió Đại Pháp”, khi ra chưởng, gió lạnh cho tới gió nóng, chị đều hạ đo ván, cuốn dép chạy dài. Số là khi mới nhập trại, tôi bị một “thế lực thù địch” nào đó, gài khí độc trong lều, khiến cơ thể tôi run lên bần bật. Thoáng nhìn, sư tỷ biết tôi đã trúng Hàn Băng Độc Khí, bèn ra tay hóa giải bằng một đồng xu và chai dầu gió. Hết một tuần trà, tôi nằm đắp mền vận công, sáng hôm sau lại mạnh khỏe như con trâu nước, đi lại như thường.

Có thực mới vực được đạo. Cha ông mình dạy không sai. Nhờ thêm năng lượng từ gói xôi dừa, cả đám đồng môn Bút Tre như được uống viên linh đơn, bèn ra roi cùng Thiết Tuấn Mã lên đường. Con ngựa sắt đưa chúng tôi đến một tửu lầu địa phương nghe tên khá giống một vị giáo chủ võ lâm, danh trấn đương thời xứ Cờ Hoa, tên Đỗ Nam Trâm (Donald Trump); quán này nổi tiếng trong giới hắc-bạch giang hồ, ai ai cũng đã từng nếm qua và đều đồng ý phong cho quán là đệ nhứt tửu lầu trên chốn võ lâm. Đó là tửu lầu Mạc Đỗ Nam (McDonald). Vì không có nhiều thời gian, chúng tôi ăn qua loa, cốt là để phục hồi công lực bị tiêu hao sau một ngày dài rong ruỗi, rồi tức tốc lên đường kẻo không kịp giờ Đá Vàng Luận Kiếm.

Môn phái chúng tôi bắt đầu chuyến đi luận kiếm trên đỉnh núi Đá Vàng. Thôi thì không kể hết được vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, chỗ thì mây trắng giăng ngang, mờ ảo như chốn non bồng nước nhược, nơi thì màu sắc rực rỡ hoa tươi cỏ lạ không nơi nào bằng. Những giòng thác nước đổ ào ào tung bọt trắng xóa từ trên cao, gió nhẹ mang hơi nước như lớp sương vuốt ve lên làn da khô cháy vì sa mạc, ai nấy đều hít căng lồng ngực thưởng thức món quà thiên nhiên ban tặng.

Lác đác hai bên đường, những khe nứt tuôn ra giòng suối nhỏ, chảy êm đềm kế bên những cành hoa dại nghiêng đầu, mang theo mùi lưu huỳnh lãng đãng. Có hằng ngàn khe nứt như vậy khắp nơi. Người không quen, dễ bị ảnh hưởng, nhẹ thì nhảy mũi, nặng thì nhức đầu, đường khí quản hơi khó thở. Người mạnh khỏe thì coi như pha, giống đi cưỡi ngựa xem hoa.

Càng đi sâu vào chốn thâm sâu cùng cốc, đồi núi trùng điệp, mắt chữ O, miệng chữ A, chúng tôi không kìm nổi kinh ngạc. Trước mắt là một cõi mộng huyền, nơi dường như trời và đất khẽ chạm vào nhau bằng làn sương mỏng. Mây trắng giăng ngang triền núi, từng dải mềm như tấm lụa của trời vô tình buông xuống, quấn quanh những đỉnh non cao chập chùng. Ánh sáng sớm mai tan loãng trong mây, vẽ lên muôn tầng sắc bạc dịu êm, như bàn tay ai vừa vuốt qua mặt nước.

Từ vách đá xa, thác nước đổ xuống như tấm rèm pha lê, từng dòng tung bọt trắng xóa, rơi xuống hồ xanh biếc như dải ngân hà rớt giữa nhân gian. Âm thanh của nước không ồn ào, chỉ như một khúc nhạc không lời, khi gần thì róc rách như tiếng cười trong trẻo của tiên nữ, khi xa lại trầm sâu như tiếng đàn tỳ bà vọng giữa mây khói.

Không khí nơi đây trong lành đến mức mỗi hơi thở như mang theo hương hoa cỏ, hương đất trời mới tinh khiết. Giữa những tầng sương, bóng chim chao nhẹ, tiếng cánh vỗ lẫn vào tiếng suối reo. Dường như mọi thứ đều chậm lại, dịu lại, chỉ còn lại sự an nhiên, thảnh thơi, và một nỗi bình yên mênh mang, khiến người ta chẳng biết mình đang ở giữa mộng hay thực, giữa cõi người hay chốn tiên.

Dọc đường, chúng tôi còn thấy vài loại cầm thú hoang dã như Gấu, Nai, và đặc biệt là Bò Tót Bison. Loại bò này to lớn gấp đôi bò thuần chủng, có lông dài nửa thân phía trước như lớp áo chống lại cái lạnh vùng núi cao.

Chúng tràn lên đường xe chạy, có một con to lớn dềnh dàng đứng trước mũi xe, tôi cho xe chạy sát bên, có thể nghe tiếng thở phì phò của nó rất gần. Nói dại, lỡ nó buồn, tung một chưởng “trung tiện” ra phía sau thì cả xe chết ngộp. Ai nấy trong xe đều khuyên nên quay kiếng lên, kẻo nó nổi khùng, húc 1 cái thì móp xe và móp cả …  người thì mang họa, lại phải đền xe vì không mua bảo hiểm. Nghe quân sư vấn kế, tôi từ từ nín thở cho xe đi qua chú Bò Tót mà không dám rồ ga mạnh vì sợ làm nó giựt mình thì khổ cả hai bên, Bò Tót và chúng tôi.

Chuyến du hiệp Đá Vàng, tám vị hiệp sĩ Bút Tre Phái đã trải qua đủ hàn – nhiệt, lúc run như cầy sấy, lạnh buốt như chốn băng sơn Cực Bắc, lúc ngồi bóp chân thư giãn, ngửa mặt lên trời mà than, khi thì nóng bỏng như ngồi bên lò luyện đan của Trường Thọ Lão Tiên. Ăn thì toàn thịt bò Bison (nói nhỏ là ngọt thịt và đậm đà hơn bò nhà) và dê núi, uống thì cà phê A-Mễ-Li-Can mạnh hơn cả cốc linh đơn Thiên Niên Hà Thủ Ô.

Song sau tất cả, tình đồng môn thêm gắn bó, tiếng cười vang vọng núi rừng Yellowstone. Giang hồ vốn hiểm ác, nhưng đi đâu mà có anh chị em Bút Tre thì ở đó hóa thành tửu quán rộn ràng.

Rốt lại, chuyện giang hồ cũng chỉ là mây khói. Chuyến đi này, chẳng để lại bí kíp võ công, không quần hồ luận kiếm, cũng không lưu danh chốn võ lâm, nhưng lưu lại một thiên “Du Hiệp Ký” giúp bạn đọc có được nụ cười “mỉm chi cọp”. Bởi vậy, môn phái Bút Tre có mấy nhà thơ, ngẫu hứng viết lên câu đối:
Đá Vàng lạnh buốt, tám hiệp sĩ vẫn cười vang đất khách;
Xôi dừa hơi cứng, nhưng thơm lừng tình nghĩa chốn giang hồ.”
 
Nguyễn Văn Tới
Môn phái Bút Tre. Chớm Thu Yellowstone 2025
 

Ý kiến bạn đọc
09/11/202521:57:35
Khách
Chào Hiệp sĩ Tới...
Lâu quá mới đọc bài viết của anh... thấy vui như người trong cuộc.
Chúc anh và gia đình mùa lễ an vui. Nhóm "Bát đại Lưu linh" trường thọ để ngao du sơn thủy.
Phan
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 501,482
Trời mới hửng sáng, bà Năm đã trở dậy. Căn nhà im lặng như tờ, giờ này mọi người còn đang ngủ cả, bà lặng lẽ đến bên bàn thờ, thắp nhang cho chồng. Tay run run, nhưng bà vẫn cố gắng không để tàn nhang rơi xuống thảm. Con dâu đã dặn bà chỉ được dùng nhang điện, nến điện, nó sợ mùi nhang và sợ tàn nhang làm hư tấm thảm đắt tiền. Nhưng bà nghĩ không có hương khói, người chết biết đường đâu mà về? Bà chỉ an tâm, sung sướng khi có ông bên cạnh, mặc dù ông bây giờ chỉ là một hồn ma. Hương khói làm ấm lòng bà, ấm lòng cả người đã khuất, bà không thể để bàn thờ chồng hương khói lạnh tanh....
Sau mấy ngày đi chơi thăm các thắng cảnh nổi tiếng ở thành phố, ăn fast food và các món ăn Ý, Pháp, Mexico… hôm nay ba mẹ con quyết định tìm nhà hàng Việt Nam vì thèm bữa cơm có canh chua, cá kho tộ, rau muống xào tỏi. Từ nơi khách sạn, Quỳnh cùng hai con đi bộ gần 3 blocks đường đến một nhà hàng Việt Nam rộng lớn và nổi tiếng với các món ăn đậm đà hương vị ẩm thực Việt. Ba mẹ con vừa đói vừa mệt nên hào hứng ăn ngon lành, hết sạch, chuẩn bị món tráng miệng và sau đó chương trình là sẽ đi dạo bờ biển đón gió đêm. Trong lúc hai con xúm lại xem lại các hình chụp trên điện thoại, Quỳnh cũng rảnh rang đưa mắt ngắm nghía xung quanh tiệm thì bất chợt như có linh tính mách bảo, nàng nhận ra có một bóng dáng rất quen thuộc đang đi ngang phía trước hồ cá trong tiệm, cùng với vài người nữa, đang tìm vào ngồi ở chiếc bàn phía bên hông cửa nhà hàng, đối diện xéo với bàn của nàng.
Nhìn lại cuộc sống của mình trong bao năm qua tôi phải thú thực rằng giấc mơ Mỹ quốc của mình đã đạt được nhiều hơn những gì mình đã từng ao ước rất nhiều. Đúng nửa thế kỷ, tròn 50 năm đã trôi qua từ cái ngày tôi có giấc mơ Mỹ quốc nhỏ nhoi nhất, nếu có ai hỏi như thế tôi có còn ao ước hay còn một giấc mơ Mỹ quốc nào nữa không thì tôi xin trả lời rằng có. Có điều giấc mơ Mỹ quốc hiện tại của tôi không còn là giấc mơ cho riêng tôi nữa mà là giấc mơ cho các thế hệ con cháu của mình. Tôi mơ đến một nước Mỹ mang đầy đủ các giá trị cốt lõi về tự do, dân chủ, bác ái, nhân đạo, và bình đẳng. Một nước Mỹ với tượng nữ thần Tự Do cầm đuốc soi sáng để thắp lên hy vọng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Một nước Mỹ sẽ luôn nằm trong giấc mơ của những đứa trẻ ở các nước đang phát triển như giấc mơ Mỹ quốc đầu tiên mà tôi đã có đúng nửa thế kỷ trước.
Huy về nhà nghỉ spring break hai ngày sớm hơn dự định. Trường võ bị West Point cho phép Huy về nhà sớm trước khi kỳ nghỉ spring break thực sự bắt đầu vì Huy có lịch làm diễn giả khách mời (guest speaker) ở một số trường trung học. Ngày đầu tiên về làm diễn giả khách mời ở ngôi trường trung học ngày xưa, Huy có dịp gặp lại cô Smith, thầy Williams, thầy hiệu trưởng sau khi hoàn thành xong ba buổi nói chuyện với vài trăm em học sinh trung học. Cô Smith và thầy Williams rất vui mừng nói rằng họ rất tự hào khi biết Huy đã vượt qua nhiều năm tháng gian khổ ở trường võ bị West Point, nhất là khi biết Huy đã hoàn tất các cuộc hành quân Norwegian Rucksack March. Về làm diễn giả ở ngôi trường trung học ngày xưa, đối với Huy, điều này là điều đặc biệt nhất trong kỳ nghỉ spring break năm ấy.
Trên máy bay về lại nhà, vợ chồng chúng tôi có chung một nhận xét: chuyến đi San Jose vừa qua là một chuyến du lịch cuối tuần đáng ghi nhớ nhất, tuyệt vời nhất. Dự liên tiếp hai đại tiệc, với đủ tình non nước, tình trường xưa nghĩa cũ, tình đàn anh đàn em, tình huynh đệ chi binh, tình bạn từ thuở tiểu học, viếng thăm mộ phần, cầu nguyện cho những người thân đã khuất núi, thăm được Cô bên Nội 94 tuổi, ông anh bên Ngoại gần 100 tuổi, nối lại và thắt chặt tình bà con cả bên Nội lẫn bên Ngoại. Vinh dự được anh chị Bs. Nguyễn Thượng Vũ đón tiếp và khoản đãi sang trọng như một thượng khách. Ấm áp được vợ chồng cousin Ngô Xuân Hùng đón đưa đi đây đó, ân cần tiếp đãi một cách rất chân tình. Và nhất là chúng tôi được ở trong khách sạn sang trọng “ngàn sao” không đâu sánh bằng.
Các cháu vừa được ông Nội chở đi ăn 'hamburger", sau giờ học về, mở cửa chạy vào quăng cặp sách trên kệ, nhảy tới ôm Bà hôn tới tấp: - Ăn no lắm Bà ơi. Bà vẫn nằm yên trên ghế sofa: - Bà dặn bao nhiêu lần rồi, về nhà phải nói tiếng Việt, không uổng công Ông đã đưa đi đón về học lớp Việt Ngữ bao nhiêu năm nay. Hai hôm nay bệnh đau lưng tái phát, nên Bà bớt làm công việc nhà. Mấy chục năm trước bà đã bị mổ kéo dài mấy tiếng đồng hồ, con cháu lo sợ Bà không qua khỏi, nhưng khi thấy Bà tỉnh lại cả nhà mừng rỡ tạ ơn Phật, Chúa. Bà đang làm ăn phát đạt phải dứt khoát buông bỏ, sang tiệm nghỉ ngơi. Tiếng cháu Út: - Bà cần con bóp tay chân không? Cháu khác: - Bà muốn gì nói con giúp nha, Bà ăn chưa? Hai cháu còn lại vuốt những sợi tóc loà xoà phủ trên trán Bà “Nội đừng làm gì nữa nhé, nằm nghỉ cho khỏe.”...
Ngày giỗ đầu tiên của mẹ. Cả nhà im lặng cắm cúi ăn. Mọi người tránh nhìn vào nhau, như thể đang tìm cách không làm đau lòng người khác bằng những kỷ niệm quá sâu sắc. Thi thoảng, họ trao đổi với nhau những câu rời rạc, nhưng tuyệt nhiên, không ai nhắc đến từ “Mẹ“, cố tình xem đây là bữa ăn bình thường, không phải là giỗ mẹ. Nỗi đau mất mẹ như vết thương còn quá mới, không ai dám chạm vào, sợ làm những giọt nước mắt ứa ra. Nhưng dù cố gắng thế nào, mẹ vẫn hiện hữu trong từng ngóc ngách ngôi nhà. Bình thường, bữa cơm nhà bao giờ cũng rộn ràng. Gia tài có hai đứa con gái, mà khẩu vị thật khác nhau. Vậy mà mẹ vẫn cố gắng chìu ý từng đứa.
Từ lúc sanh ra, hai chị em tôi rất ít khi gặp ba, chỉ biết có mẹ. Sau này chúng tôi mới nghe mẹ kể, ba là người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), ít về nhà. Khi chúng tôi hơi lớn lên một chút thì ông đã tử trận oai hùng vào dịp Tết Mậu Thân 1968, năm tôi mới được bốn tuổi và chị sáu tuổi. Mẹ là một người phụ nữ hiền lành, mảnh mai, đẹp và quyến rũ, ai gặp mẹ, nói chuyện với mẹ là khó có thể quay lưng, nên cuộc đời mẹ thật truân chuyên, trong thơ Nguyễn Du có câu: Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (Kiều-Nguyễn Du)
Ngày tháng trôi qua vùn vụt, mới đó đã nửa thế kỷ từ khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam. Năm nay hình như cơn buồn của người dân tỵ nạn tăng lên nhiều hơn, nỗi nhớ, nỗi uất hận cũng thấm đậm hơn. Tôi thấy nhiều hội đoàn xôn xao chuẩn bị ngày tưởng niệm mất nước trong “tháng Tư Đen” sớm hơn, thay vì những năm trước chỉ vào cuối tháng.
1975. Tháng Tư, thị trấn Sparks, tiểu bang Nevada. Ba chị em ngồi dán mắt trước cái tivi đài Mỹ đang chiếu tin tức thời sự. Màn hình hiện lên bản đồ hình chữ S có tên của ba thủ đô Hà Nội - Huế - Sài Gòn. Đường vĩ tuyến 17, chia cắt hai miền Bắc Nam rõ rệt. Bắt đầu từ Tháng Hai năm 1975 tôi đã theo dõi tin tức Việt Nam nhiều hơn, khi chiến trận giữa Bắc Nam ngày càng sôi động, cũng nhờ mấy bài báo cắt ra do Ngọc Anh em tôi gởi qua. Họ đưa hình bản đồ chữ S lên, Miền Bắc sơn màu đỏ, rồi màu đỏ vượt khỏi vĩ tuyến 17 tràn xuống Miền Nam. Màu đỏ lan xuống tới đâu, tôi rớt nước mắt tới đó...
Nhạc sĩ Cung Tiến