Tiếng Nước Tôi Trên Đất Mỹ

02/10/200700:00:00(Xem: 165041)

Bài số 2111-1974-679vb3021007

*

Tác giả 66 tuổi, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO, cư dân Riverside, hiện là Guest Teacher cho Colton Joint Unified School District (nam California). Ông là tác giả 3 bài viết "Người về từ đảo Guam," "Ông Già Bãi Giá", và "Oan Ức Một Thời, Oan Ức Một Đời".

*

Bốn mươi năm trước khi tôi đi Mỹ để tu nghiệp về ngành thông tin trong quân đội, tôi có dịp gặp gia đình Tiến sĩ Ng.t.Th. tại Chicago, một thành phố gần trường tôi học. Anh chị cũng chỉ mới sang Mỹ trước đó mấy năm trong cao trào "chảy máu chất xám" từ Âu châu để nhận một chân giảng dạy môn Vật lý cho một đại học tại thành phố này.

Tôi vào thăm giảng đường ngồi chờ anh. Tiếng Anh của anh lúc này accent còn nặng âm điệu tiếng Pháp, nhưng về phương cách giảng dạy trên bục giảng thì đám sinh viên Mỹ có vẻ phục và chú ý theo dõi. Chị làm part-time cho một công ty nhỏ, chủ yếu lo phần nội trợ, nuôi dạy cháu gái, bé Trâm (Michelle) và lo cho tổ ấm nhiều hơn. Gia đình này có vẻ hạnh phúc, hồi đó sống ở hải ngoại, lấy người cùng xứ thường là xuất phát từ các cuộc tình sinh viên, lại đến với nhau trong tình đồng cảm của người xa xứ nên ít thấy có chuyện chia tay sớm như các bạn thanh niên ngày nay.

Tôi theo bố cháu Trâm từ giảng đường về nhà, ngạc nhiên khi con bé bốn tuổi ra chào, "cháu chào chú ạ." Con bé dễ thương lại càng dễ thương khi chào hỏi theo kiểu Việt nam. Tôi xoa đầu cháu và tặng cháu một con búp bê mặc áo dài made in Vietnam. Ba người lớn cùng ngồi noí chuyện, tôi trao cho chị món quà của gia đình gởi từ Saigòn qua. Chợt bé Trâm mặt hớt hải tay cầm con búp bê, chạy vào la với giọng như muốn khóc, "mẹ ơi, trái ớt nhà mình bị "té" rồi!" Cả nhà đều cười, chợt như sợ phật ý đứa bé, cả ba chúng tôi ra cạnh hiên nhà nhìn cây ớt kiểng, quả thật, có một trái đã bị rụng xuống dù cuống còn tươi. Cây ớt chị mang hạt từ Pháp sang, được ươm, mọc lên trong những ngày hè để làm cây kiểng cho đỡ nhớ quê. Bé Trâm thích nó như một sinh vật thân thương và quí nó như một thứ đồ dễ vỡ, có thể do mẹ cháu bảo cháu cây "bông ớt" này là từ Viêt nam, miền đất cháu nghe nhiều nhưng chưa một lần được đặt chân đến.

Ngay từ ngày đó, trùng hợp với cao điểm của cuộc chiến Việt nam, cuộc sống ở Mỹ đã khá tất bật. Chuyện có một bữa ăn với món ăn Việt trong gia đình quả là hiếm hoi. Nhưng ngôn ngữ Việt bố mẹ cháu Trâm thấy chẳng phải đi đâu xa, mà vẫn có thể trao đổi, sử dụng, gìn giữ ngay trong tổ ấm của mình. Trong niềm trăn trở luôn nhớ về nguồn, chi đã ra sức dạy cho bé gái tiếng Việt và hệ quả của nó tôi nghĩ là có lợi cho những thế hệ xa quê hương. Tôi mất liên lạc với anh chị mấy năm sau đó phần vì bị cuốn hút bởi cuộc chiến, phần vì số phận đổi đời sau 75.

Bốn mươi năm sau, tại một ngôi nhà vùng đồi thoải Riverside, nam California, gia đình tôi với ba thế hệ sống chung một nhà, hai vợ chồng tôi, hai vợ chồng đứa con gái lớn, và một cháu ngoại, khác với bé Trâm, cháu là bé trai. Thằng bé chưa đến trường, phần dạy dỗ tiếng Anh cũng như tiếng Việt, bố mẹ cháu giao cho chúng tôi. Riêng đồ ăn Việt và chăm sóc cháu thì giao thêm cho bà nó. Cháu bà nội tội bà ngoaị ở đâu cũng vậy, nhưng bù lại là niềm vui vô giá cho lứa tuổi lúc về chiều.

Gần như đến hẹn lại lên, cứ vào cuối thu, gió Santa Ana thổi từ sa mạc Mojave ra biển lại đi qua vùng tôi ở, một loại gió khô, nóng.với tiếng hú làm khó chịu về đêm nếu ai muốn mua nhà đắt tiền trên đồi cao. Cây cối, cây kiểng cũng có phần ảnh hưởng bởi loại gió này, tất nhiên sân vườn nhà ai dù rộng, dù hẹp, dù design theo kiểu gì thì gió mưa cũng chẳng trừ ai.

Tôi đang ngồi ăn sáng với bà nó, bố mẹ cháu thì đã đi làm từ lúc trước hừng đông. Thằng nhỏ ngoài sân chạy vào bằng một giọng tuy không nhiều cảm xúc nhưng cũng không kém phần hối hả, "bà ơi, mấy trái ớt của ông ngoaị "té" rồi!" Tôi không quan tâm lắm vì mấy trái ớt rụng do trận gió đêm qua, nhưng lại liên tưởng đến cây ớt kiểng của gia đình bé Trâm bốn mươi năm về trước, người già thì hay hồi tưởng tôi cũng có tật này. Khi liên hệ về phần ngôn ngữ, sao không hẹn mà gặp, hai thế hệ cùng sanh tại Mỹ vẫn dùng chữ "té" thay vì "rụng" hoặc rớt xuống& Tôi tức cười hỏi cháu,"Sao nó có bị đau không" Con hỏi nó chưa"" Thằng bé biết tôi chọc quê vì ớt đâu phải một sinh vật, nhưng cũng ra nhặt và đưa cho tôi mấy trái ớt màu đỏ còn tươi vì nó biết tôi thích ăn ớt và ớt tôi trồng để ăn chứ không phải làm kiểng như nhà bé Trâm.

Được dịp, nhân lúc thằng bé chạy ra ngoài, bà ngoaị nó trách tôi,"ông dậy tiếng Việt gì mà "rớt" lại la là "té".  "Trong gia đình nói chung, hai vợ chồng tôi luôn có sự tương kính nhau, nhưng tôi vẫn cứ mang mặc cảm bị "lép vế" vì tôi mất thâm niên "quản lý gia đình" gần mười hai năm khi đi "công tác" miền Bắc. Tôi chưa chịu phản ứng vội vì dòng hồi tưởng về gia đình bé Trâm còn đang gợi nhớ trong tôi, nhưng sau đó cũng phải kịp thời sửa cho thằng nhỏ cách dùng từ thế nào cho đúng và đừng làm "mất mặt" ông (ý nói với bà ngoaị của nó). Thật sự khi học một ngôn ngữ, phải nói sai, viết sai, rồi sửa sai mới là phương cách để nhớ và tiến bộ.

Chuyện đến đây coi như xong. Nhưng vì ngày rộng tháng dài, lại tuổi nghỉ hưu, nên từ chuyện trái ớt xin tản mạn sang chuyện "Tiếng nước tôi". Tôi cũng như các bậc phụ huynh người Việt xa quê hương vẫn có niềm trăn trở về tiếng Việt đối với các thế hệ thứ hai, thứ ba trên đất nước này. Quả thật "không sợ các em không nói giỏi tiếng Anh mà e các cháu chóng quên tiếng Việt". Suy nghĩ này đã trở thành một "motto" được viết dán trên các tường của các phòng sinh hoạt trong nhà chùa, nhà thờ, trung tâm cộng đồng người Việt khắp các bang.

Do hai ngôn ngữ Việt Mỹ có sự khác biệt về ngữ pháp, cấu trúc& cho nên họ tên cũng đổi ngược, ngày tháng đảo lộn, chào thì phải phân biệt sáng trưa chiều tối, xưng hô thằng ấy ông ấy cũng him, bà kia con nọ cũng her, đại loại làm cho các cháu thuộc lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo dễ bối rối khi phải tiếp thu hai ngôn ngữ song song cùng một lúc.

Chưa kể cách đặt câu, tật nói ngược, dùng chữ tức cười kiểu như,"ông ra banh chơi với con đi", "mời ông xuống cơm ăn", hoặc bà bảo nó lên hỏi," ông ăn chưa", thằng cháu chạy xuống cũng lại nói, "ông ăn chưa" (lẽ ra là "ông chưa ăn"). Bà lại bảo nó lên hỏi lại,"ông ăn chưa hay chưa ăn" (vì lúc này bà đã sửa soạn xong món ăn). Thằng nhỏ đâm bối rối, lạc hướng nên ông phải xuống trả lời cho rõ, "ông chưa ăn nhưng chưa muốn ăn."

Tiếng Việt, ôi "tiếng nước tôi" quả là lắt léo vì nó quá phong phú, đa dạng. Rồi cái kiểu hay "nói lái" (lính chê-Chế Linh, ca sĩ này được miễn quân dịch) nó làm cho con cháu mình có tật hay nói ngược chứ không hẳn cứ đổ lỗi cho Mỹ. Chưa kể 5 cái dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã làm đau đầu lũ nhỏ lúc phát âm, trong khi các nhà ngữ học quốc tế lại nức nở khen tiếng Việt nhờ có âm sắc như vậy nên khi nói mà cứ như là&"hát'. (đặc biệt là các bà các cô dưới 50)

Nay nhìn lại tôi mới thấy các bé Việt hải ngoại may mắn hơn nhiều so với thế hệ bé Trâm. Cộng đồng Việt nam ngày nay vừa đông, vừa mạnh, lại có nhiều người giỏi,nhiều người giàu. Tuy cấu trúc cư dân, thành phần xã hội, có sự khác biệt diện này diện nọ, nhưng dù quá khứ, xuất thân thế nào thì ai đến Mỹ cũng có cơ hội, có chí thì nên, có gan thì giàu, không nhất thiết phải là con ông cháu cha, phải giàu ba họ, hoặc phải chịu cảnh khó ba đời, con sãi nhà chùa lại quét lá đa như ở quê nhà.

Thiếu gì gương thành đạt ở Mỹ, báo đăng, sách viết cứ như chuyện thần tiên. Một anh chăn trâu ở Bình Giả đã trở thành một Vice President (người Á châu đầu tiên) của National Geographic, một con ông thợ đóng giày ở chung cư Ấn quang nay đã thành một bác sĩ thành Cam. Chẳng đâu xa, ngay thành phố tôi ở, một thằng bé lai bán bánh cam ở Bình định nay đang là chủ nhân của hai cơ sở thương mại, vợ chồng mới mua căn nhà lớn như tòa thị sảnh mà chẳng cần gặp Loan Officer. Dĩ nhiên có nhiều gương thành đạt không sao kể xiết đến nôĩ chuyện "Viết Về Nước Mỹ" trên Việt Báo thuật lai, tả lai tám năm rồi vẫn chưa hết chuyện!

Một khi cộng đồng lớn mạnh như vậy thì theo tỉ lệ thuận một cách lô gích ngôn ngữ, văn hóa phải phát triển theo. Dân ta lại có truyền thống vốn trọng "Về Nguồn", nên muốn con cháu mình nhớ nguồn thì mặc nhiên phải trân trọng, vun bồi, gìn giữ tiếng Việt để các thế hệ tiếp nối dù xa Tổ quốc vẫn nói được tiếng Việt, viết được tiếng Việt.

Nhìn lại thời bé Trâm, ta đâu có Viện Việt học (mới tổ chức Hội nghị quốc tế về tiếng Việt hồi tháng 7 năm nay), Hội Khuyến học, trung tâm văn hóa Hồng Bàng, các trường, các trung tâm dạy, kèm tiếng Việt, các báo Việt xuất bản hàng ngày, các đài phát thanh, phát hình hàng giờ, các cơ sở in ấn song ngữ, tranh vẽ đủ màu, đủ cỡ, sách truyện đa dạng, đủ loại dành cho thiếu nhi. Hồi đó làm gì có các cuộc hội thảo, tham luận, tham vấn trao đổi kinh nghiệm tại các đại học Mỹ UCLA, Georgetown về tiếng Việt, về phương pháp dạy tiếng Việt. Ngày đó The Catholic University of America và Hawaìi đâu đã nghĩ đến việc bảo trợ in ấn sách báo thiếu nhi. Cũng chưa có nhiều học giả, giáo sư, các thày cô vừa dạy, vừa soạn sách, vừa in sách phổ biến sâu rộng trong cộng đồng, lại thiếu các phương tiện thính thị, dụng cụ trợ huấn, ngân khoản in ấn dành cho việc phổ biến. Nói đến quảng bá, khích lệ thì các giải thưởng khuyến khích học tiếng Việt cũng chỉ tổ chức năm thì mười họa, chưa kể thân chủ, cơ sở bảo trợ còn đếm trên đầu ngón tay.

Nhưng nay thì tình hình đã đổi khác, vấn đề đặt ra là làm sao gây được phong trào làm cho con em mình nó "thích", thích học, thích đọc, thích viết, thích nói, thích nghe tiếng Việt, kể cả thích vẽ tranh Vìệt, thích làm thơ Việt, thích hát tiếng Việt. Theo tôi nghĩ một trong các phương cách là nên có các giải thưởng, các buổi lễ trao giải, các cuộc họp mặt, triển lãm tác phẩm, các bài viết, tranh vẽ của nó (kiểu Việt Báo Gallery), cùng kết hợp với các hình thức múa hát, thể thao, võ thuật, hướng đạo, tầm lộ đoàn, thi giáo lý, thi đố vui, thi đánh vần lồng trong các lễ hội cổ truyền (Tết, Trung thu, Hội Vua Hùng, Hai Bà Trưng...) để chúng có thể show off khả năng nói và viết tiếng Việt của mình. Chả cứ người lớn mới cần hơn nhau tiếng gáy mà ngay trẻ em nó còn muốn hơn nhau cả tiếng "hú".

Tôi đặc biệt chú ý đến sáng kiến của Việt Báo khi tổ chức các cuộc chọn giải và trao giải hàng năm cho thiếu nhi hải ngoại qua giải "Bé Viết Văn Vìệt". Uy tín của giải đã được khẳng định, danh xưng của giải đã được phổ cập khiến các trung tâm, trường học, kề cả giới phụ huynh đã khuyến khích học sinh,con em của mình gửi bài tham dự giải. Giải đã bước sang năm thứ sáu, các sách in Bé Viết Văn Việt đã in được cuốn thứ năm. Người chọn lựa bài viết của các em cho "sách bé con" này được chính chị Nhã Ca, chủ nhiệm Việt Báo đảm trách. Chất lượng của các bài viết đoạt giải thì đã được biểu thị bằng giải thưởng và phần trình bày, in ấn trang nhã của sách đã được các giới phụ huynh và phê bình đón nhận một cách rất khích lệ. Đáng chú ý là nhiều trung tâm, trường lớp dạy tiếng Việt hải ngoại muốn thu hút sĩ số cho trường nên cũng "khoe" học sinh trường mình đã đạt giải Bé Viết Văn Việt năm này, năm nọ... thì tự nó làm tăng thêm uy tín cho giải và là niềm hãnh diện cho các em đoạt giải.

Cầm cuốn sách Bé Viết Văn Việt trên tay tôi lại thấy tội nghiệp cho lời than vãn của DB Luật sư Trần thái Văn khi ông hồi tưởng, "tôi nhớ khi lớn lên ở đây, tôi cũng viết truyện, vẽ tranh, mà đâu có ai in!"  (Nhưng nay đã có người in, con đầu lòng của ông chỉ 6 năm nữa là có thể dự giải rồi, nên mong bố Thái Văn trở thành thân chủ bảo trợ cho giải là vừa)

Năm nay, nhân trong nhà có người được trao giải khuyến khích về một bài viết về nước Mỹ, nên nhân buổi trao giải Viết Về Nước Mỹ, tôi cũng cho thằng cháu đi theo. Đặt hẳn một suất, có bảng tên đàng hoàng để nó thấy nó cũng "quan trọng". Tôi quan sát thấy nó có vẻ thích thú với phần đầu của chương trình (dành cho việc trao giải thiếu nhi BVVV). Nó chưa bao giờ được tham dư một cuộc họp mặt lớn như vậy, cũng có đi dự mấy cái đám cưới lớn, nhưng nhìn các thiếu nhi trạc tuồi nó hoặc hơn nó mấy tuổi lên lãnh các phần thưởng lớn trong không khí trang trọng như đêm nay thì nó chưa có sự trải nghiệm.

Phần II của chương trình, trừ lúc người nhà lãnh giải, còn thì nó lo đọc cuốn sách của nó vừa mới mua từ bàn tiếp tân.Trên đường về nó hỏi bao giờ lại "có" nữa, tôi nói một năm nữa, nó tròn mắt... sao lâu quá vậy. Tôi đoán chắc nó "thích", một dấu hiệu đáng khích lệ.

Cũng qua sự trao giải tôi ghi nhận có vài cách nhìn hơi vội vã về các giải dành cho các em. Có vài vị còn nghi ngờ làm sao các em mới 11,12 tuổi mà viết được các đề tài như vậy. Nếu chỉ nghe xướng ngôn tên bài, tên giải, lứa tuổi đoạt giải mà chưa có dip mua sách và đọc các bài trúng giải thì tôi e cách nhìn chủ quan này cũng lảng vảng trong suy nghĩ của tôi. Nhưng khi xem lại toàn bộ cuốn sách, tôi mới thấy các đề tài được chọn đều là các đề tài tuổi thơ, rất gần gũi với các sinh hoạt gia đình, nhà trường, cộng đồng em ở, các con thú các em nuôi, các em chơi. Lối viết cũng là chữ nghĩa trẻ thơ, ngây thơ trong sáng, thấy sao viết vậy, tả vậy. Tôi còn so sánh, do kinh nghiệm kèm dạy thằng cháu của tôi, thì thấy nếu viết bằng tiếng Anh các em có thể viết cao hơn, hay hơn vì thuộc trình độ và lứa tuổi của các em.

Nhưng vì viết bằng tiếng Việt, cứ tạm gọi là ngôn ngữ phụ thì có sự hạn chế và khó cho các em trong lối chọn câu, chọn chữ, tìm ý, tìm từ&, cho nên các em viết như vậy là ở mức độ chấp nhận được. Tôi cũng nghĩ các em trúng giải, trừ số ít do bố mẹ dạy kèm trực tiếp, còn thì cũng được học từ trung tâm nọ trường kia. Chúng được dạy "Tập làm văn" theo kiểu Việt nam song song với cách luyện viết ở bậc tiểu học của Mỹ, một lối dạy luôn tạo cho trẻ em có những suy nghĩ sáng tạo, độc lập và tự tin. Chưa kể muốn ăn giải phải được luyện, chỉ dạy thêm theo kiểu "coaching" chứ không phải chỉ "teaching" mà thôi. Cho nên khi được khuyến khích gửi bài dự thi thì lúc được trúng giải các em cũng có sự hãnh diện về "tác phẩm"của mình. Tuy hơi dài dòng, nhưng tôi cũng xin trích dẫn chút tâm tình của chị Nhã Ca khi chị xin các vị phụ huynh "đón nhận bằng tấm lòng của ông bà cha mẹ nhìn con cháu nhà" để khích lệ các em cố gắng hơn nữa trong nỗ lực trau dồi tiếng Việt tìm lại cội nguồn.

Song song vớI việc khích lệ trong quá trình dạy và học, một hình thức nữa để thúc đẩy các em là lâu lâu sắp xếp cho chúng có dip về thăm quê hương.

Thời bé Trâm quê hương chiến tranh các em đâu có dip về. Thời thập niên 80, người ta trong nước đang lo "đi", chả ai nghĩ đến chuyện "về", chưa kể nhà nước lúc đó chưa nhìn nhận và o bế Việt kiều như là "một bộ phận không thể thiếu trong tiến trình đoàn kết của cộng đồng Việt nam." Chỉ mới mười năm trở lại đây, phong trào về thăm quê mới nở rộ. Động cơ thúc đẩy cũng có nhiều lý do nhưng chẳng qua cũng chỉ vì nhớ quê hương, thăm người thân, dẫn đám cháu về cho chúng nó biết đất nước cội nguồn, còn việc trao đổi làm ăn, thăm dò chính trị, trao đổi văn hóa thì không nói, không bàn ở đây.

Chính chuyến về thăm quê vào dip Tết giúp thằng cháu tôi khi sang lại Mỹ viết bài Luận văn tả lại chuyến đi, nhất là bài tả tết cổ truyền đã được cô giáo khen nức nở, rồi cùng với mấy bài văn sau đó giúp nó lãnh được phần thưởng Writing, một phần thưởng ít khi có "đầu đen" lên lãnh. (chỉ tiếc chưa có khả năng viết bằng tiếng Việt, nó còn phải học bé Vincent Bảo Phương, giải Á khoa 2007 về đề tài này). 

Cũng sau một tháng ăn Tết được giao lưu với đám trẻ cùng lứa, đi thăm các tụ điểm giải trí thiếu nhi, ăn uống đồ Việt, thăm cảnh Việt... thì khả năng nói và đọc thằng nhỏ tiến bộ trông thấy, chưa kể điều làm nó thích thú là trẻ con Việt kiều, Việt Cộng đều có cùng một ngôn ngữ trong ..trò chơi điện tử, một điều không thể chối cãi là tụi nó thân nhau nhanh qua trò chơi của thời đại này.

Cuối bài viết cũng xin trao đổi một kinh nghiệm khi chọn sách cho các cháu học, cháu xem. Trẻ con nó rất nhạy cảm, nên khi chọn sách giáo khoa phụ huynh cần có sự chú ý, xem và duyệt trước. Một giai thoại vui giữa hai ông cháu nhân đọc một đoạn thơ trong cuốn Tiếng Việt lớp 2 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo soạn và in (mẹ nó mua từ Việt nam nhân chuyến đi). Đoạn thơ của L.A.X. có 8 câu, hai câu chót:

"Điệu lục bát, khúc dân ca/Vie^.t nam là Bác, Bác là Việt nam"

Thằng nhỏ hỏi ông Bác là ai" Ông hơi bối rối, giải thích theo sử quan thì dài dòng quá, ông bèn ngắn gọn "cương" lên như sau:

"Bác là tượng trưng cho bác nông phu của đồng ruộng Việt nam, Bác là hình tượng của một người đã một nắng hai sương, dầm mưa dãi nắng, chăm lo vun bón cánh đồng, đem bát cơm về cho dân làng, dân bản. Cho nên hình ảnh Bác là hình ảnh Việt nam, hình ảnh đồng ruộng Việt nam, của đồng bằng sông Hồng, sông Cửu, của châu thổ sông Mã, sông Chu, của dẻo đất hẹp chạy dọc biển Đông kéo dài tới miền đất Mũi."

Thằng cháu ra chiều cảm động dù chưa hiểu mấy địa danh này nằm ở đâu, nhưng nhìn nét mặt nó có vẻ "thương" bác nông phu như ông nó tả.

Mấy hôm sau, ông nó thay sách khác, cuốn cũ dùng làm tài liệu "tham khảo", vì ông nó không muốn giải thích cho cháu mình một cách tùy tiện, chủ quan đành rằng lớn lên nó sẽ hiểu.

Tản mạn lâu quá rồi, e đi quá xa. Xin dừng ở đây, mong sao các em các cháu cố viết và nói được Tiếng Nước Tôi. Mong các vị đồng hương, phụ huynh, các nhà bảo trợ, các nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà in góp tay góp ý cho nỗ lực này để cùng các cơ sở truyền thông, các tổ chức tôn giáo, văn hóa, giáo dục, các trung tâm cộng đồng...  đẩy mạnh phong trào "học và viết tiếng Việt" lên bước cao hơn, cho con cháu chúng ta dù sống trên quê hương thứ hai, nhưng "cội nguồn vẫn giữ, giống nòi chẳng quên."

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 65,416,587
Nguyễn Hữu Thời là tác giả rất có lòng với việc Viết Về Nước Mỹ ngay từ năm đầu. Trước 1975, ông dạy học, quân nhân QLVNCH Khóa 18 Thủ Đức).
Tác giả cho biết cô 35 tuổi, học Management Information System, ra trường từng làm IT Project Manager... hiện sống cùng gia dình tại Florida
Tác giả cho biết cô 35 tuổi, học Management Information System, ra trường từng làm IT Project Manager... hiện sống cùng gia đình tại Florida
Bài viết sau đây được gửi tới từ trong nước Việt Nam. Tác giả là một giáo viên dân Kinh 5, Rạch Giá, Kiên Giang, tự mô tả mình, nguyên văn như sau
Tôi cũng đến Mỹ đã được 16 năm, ngắn hơn Quân tiên sinh nhưng lại viết về nước Mỹ sớm hơn vì tôi tình cờ được đọc bài "Greenville
Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregan.
Tác giả đã góp bài viết về nước Mỹ từ năm đầu. Là cựu giáo sư trung học ở Việt Nam trước 1975, vượt biên đến Mỹ năm 1984
Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của Quang Thái là “Bên Kia Đồi,” chuyện một người đồng tính tự kềm hãm mình để rồi cuối đời lên đồi vắng cất tiếng hú khan
Bà Trương Ngọc Bảo Xuân là tác giả đã nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2001, với bài viết "32 Năm Người Mỹ và Tôi".
Tác giả từ Việt Nam tới Bắc Mỹ theo diện du lịch thăm cha mẹ và các em. Bài viết về nước Mỹ của bà thể hiện sự xúc động không phải vì nhà cao
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.