Nỗi Nhớ Tháng Năm

22/05/201900:00:00(Xem: 5637)
Tác giả: Trần Ngọc Ánh
Bài số  5695-20-31502-vb4052219

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm thứ 20. Bà tên thật Trần Ngọc Ánh sinh 1955, sau khi đi tù gần 11 năm về tội chống Cộng Sản từ đầu 1979 đến cuối 1989, đã tốt nghiệp Đại học năm 1995 ngành Quản trị kinh doanh tại VN. Sang Mỹ định cư theo diện kết hôn năm 2007, hiện đang sống tại thành phố Victorville, miền Nam California. Nghề nghiệp nội trợ. Sau đây, thêm bài viết mới của bà.

***

Ở tiểu bang có cư dân Việt Nam đông nhất nhì nước Mỹ này thì gọi phố Bolsa là thủ đô của người tị nạn Cộng Sản cũng phải thôi, nơi đây còn là trung tâm của Văn hóa, nghệ thuật, là khu vui chơi giải trí, chợ búa sầm uất buôn bán nhiều mặt hàng phong phú đa dạng như bên nhà,  cả phần ẩm thực hợp khẩu vị Việt Nam cũng không thiếu món gì ở đây.

Bởi vậy nên mới có những ông bà cụ sống ở đây mấy chục năm mà không cần biết tiếng Mỹ, vì mọi giao tiếp đều gặp người Việt phục vụ tận tình, từ taxi đến bác sĩ, từ trong tiệm cà phê đến ngoài chợ trời, từ tờ báo tin tức hàng ngày đến chương trình ca nhạc trên TV, đâu đâu cũng là tiếng Việt lời Việt nên đôi khi quên hẳn mình đang ăn nhờ ở đậu bên Mỹ, cách quê nhà xa lắc xa lơ.

Có lẽ vì nhà xa, vì tuổi cao sức yếu nên chúng tôi cũng ít lái xe xuống núi đến vùng Bolsa , nơi có nhiều đồng hương của mình sinh sống để tham dự những sinh hoạt cộng đồng ở đó. Bạn bè của anh thì nhiều, hầu hết là anh em quen biết từ bên quê nhà trước ngày mất nước, ai cũng ngót nghét “bảy- tám bó” tuổi đời và hơn bốn mươi năm tuổi trọ trên đất nước tạm dung này nên thỉnh thoảng được dịp gặp nhau là chúng tôi mừng lắm. Bạn bè của tôi thì đa phần gắn bó từ thời đi học nên trẻ hơn chút xíu, qua đây ở rải rác khắp nơi , lâu lâu tổ chức họp mặt đông vui hết biết,  cho mấy ông bà tám có cơ hội mà tha hồ í ới.

Không nơi nào có nhiều các tổ chức cộng đồng như ở vùng Thủ Đô tị nạn này, hội đồng hương trên bốn vùng chiến thuật, gần như tỉnh nào cũng có tên, rồi cựu giáo chức, cựu sinh viên học sinh từ Bưởi Chu văn An, Quốc Học Huế đến Gia Long Trưng Vương, Petrus Ký, Văn Khoa Sàigòn ..

Còn các cựu quân nhân thì từng binh chủng đều có những hội nhóm để kết nối với nhau. Thường thì vào dịp lễ Tết cuối năm hay những kỹ niệm đặc biệt, các con đường chánh của khu Bolsa rợp bóng cờ vàng bay phất phới bên cạnh cờ Mỹ, có hiểu biết về những khó khăn của cộng đồng Việt đầu tiên khi dựng được cột cờ trên vùng đất Bolsa để hình thành khu thị tứ sầm uất ngày nay, mới thấy tinh thần quyết chí dũng cảm của các anh quân nhân 30 năm trước đã xin với chính quyền sở tại, để ngày 18 tháng 3/1989 lá cờ Việt Nam Cộng Hòa được chính thức kéo lên tại đây, lá cờ là biểu tượng của Tự Do, của hồn thiêng sông núi Việt Nam, lá cờ khẳng định một tinh thần quốc gia, một sắc dân tị nạn Cộng Sản đến định cư trên đất nước Hoa Kỳ.

Lá cờ đã làm tôi bật khóc khi ngày đầu tiên đến Mỹ nhìn thấy nó được tung bay trước cổng chùa ở một thành phố nhỏ hẻo lánh bên Texas xa xôi, tôi xúc động như thể mình tìm được cái gì đó quý giá, thiêng liêng lắm đã thất lạc từ lâu. Lá cờ là tuổi trẻ của tôi suốt những năm tháng hồn nhiên, hình ảnh lá cờ bay phất phới trong sân trường lộng gió mỗi sáng thứ hai đầu tuần mấy mươi năm trước cứ khiến tôi nhớ hoài, bây giờ cũng vậy, mỗi lần tham dự một buổi họp hội đoàn nào đó, cứ chào cờ là tôi thấy lòng mình rưng rưng và khi nhạc cho phút mặc niệm trổi lên là tôi ứa nước mắt, không biết tủi thân cái gì, thương cho mình hay thương cho quê hương bỏ lại .Có lẽ cả hai.  

Các ông bạn của nhà tôi thì đủ thành phần quân dân cán chính, hồi nào bên nhà còn trẻ trung, bay bướm. Sau biến cố 75 tan nát đời trai, không bầm dập vì tù tội thì cũng xơ xác làm thuyền nhân. Bây giờ khi tạm an cư lạc nghiệp ở xứ người , thì mới thấy tóc mình bạc trắng, chân cẳng mỏi nhừ, bạn bè trang lứa bây giờ cũng xấp xỉ trên dưới 80 hết rồi, hỏi sao không buồn đủ kiểu. Mà người già thì hay nhớ về quá khứ , hay nhắc chuyện năm nẳm năm nao, nên khi có dịp gặp nhau,  hẹn ngồi quán cà phê quen thuộc nào đó, các ông cứ xúm xít mày tao mi tớ bàn chuyện thời sự, tin tức thế giới hay chuyện chính trị ở bên nhà,  nhắc chuyện lính tráng hồi xưa, chuyện bạn bè ai còn ai mất, ai nằm viện dưỡng lão, ai mới li dị vợ, ai mới về Việt Nam rước con ghệ nhí qua .Ôi thôi đủ thứ chuyện để nói trong khói thuốc mờ ảo và ồn ào,lâu lâu có chêm tiếng Mỹ tiếng Đức nghe sao giống y chang một góc Sài gòn,


Thật ra không phải nhóm nào cũng sôi nổi như vậy, có vài ông sống khép kín hơn trong nổi buồn riêng, ít lang thang ngoài đường, bạn bè chí cốt ghé nhà chơi thì uống vài chai bia, khề khà chuyện cũ , rồi khoe mới in cuốn sách hay làm xong tập thơ, loay hoay ký tặng bạn. Bên này ngoại trừ những cây cổ thụ có tên tuổi trên văn đàn từ trước ngày di tản thì các văn nghệ sĩ coi viết lách văn chương như một nhu cầu không thể thiếu, còn những cây bút sau này tại hải ngoại lại xuất phát từ nổi buồn xa xứ, các tác phẩm hầu hết đều xoay quanh chủ đề ghi lại những giai đoạn khốn khổ, tù đày, vượt biển, sự chia ly, mất mát, bước đầu gian nan lập nghiệp trên quê người, nỗi niềm nhớ nhung cách trở..

Nói chung là chuyện buồn thời di tản được các nhà văn viết lại dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Thỉnh thoảng có thể loại biên khảo giá trị cho những chuyên đề như văn học hay triết lý tôn giáo.

Thật ra tôi chỉ là loại ếch ngồi đáy giếng, nghe ké những câu chuyện của các lão bối khi trà dư tửu hậu, hay đọc ngấu nghiến mớ sách vở có được trong nhà rồi đưa ra nhận xét như vậy, nhưng có một sự thật là viết văn làm báo bên này chỉ để cho dzui thôi chứ không gọi là kinh doanh để sanh lời, viết một cuốn sách cả tháng trời, có khi thai nghén tác phẩm còn lâu hơn thai nghén baby, bỏ tiền túi đem in ra, chi phí tổ chức ra mắt sách, bán được phân nữa số lượng là hú hồn đủ vốn, còn gởi nhà sách bán thì giá bìa chỉ còn 50%, mà lâu lắm mới hết, chủ yếu là có sách để dành tặng bạn bè gần xa cho vui tình thân hữu. Các tờ báo phát hành hàng ngày hay hàng tuần ở địa phương chắc cũng sống nhờ vào quảng cáo mới tồn tại lâu dài.

Nhưng dù lời lỗ thế nào thì phải thừa nhận rằng sách vở báo chí ở hải ngoại là vô cùng phong phú, nó tạo ra bộ mặt giá trị của cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới, các tác phẩm từ thơ ca đến văn học đều được viết bằng máu và nước mắt trong đớn đau lao tù hay những gian khổ chết sống trên biển cả trong hành trình tìm Tự Do của những người Việt không chấp nhận sống với Cộng Sản tàn độc bất nhân, chính xã hội đã đẩy người dân đến bước đường cùng để họ phải tìm mọi cách đào thoát ra khỏi nơi ruột rà máu thịt của họ Mỗi dòng chữ phản kháng chính là bản cáo trạng dành cho ngày tàn của chế độ độc tài, mà các tác giả là những nhân chứng sống sót sau cuộc tàn sát dã man của Cộng Sản kể từ sau 1975.

Phải thành thật mà nói những cây bút hải ngoại sau này hầu hết đều không phải là dân cầm bút chuyên nghiệp như các bậc đàn anh danh tiếng trên văn đàn từ trước, nhưng sức viết của họ rất mạnh mẽ, ngòi bút thể hiện sự khát khao về một Tự Do, nhân quyền cho quê hương VN, họ viết như một nhu cầu cần được giải tỏa, tâm trạng của kẻ ly hương bao giờ cũng thiết tha cháy bỏng khi nghĩ đến quê nhà, tác phẩm xuất phát từ trái tim , từ nỗi lòng chân thật của tác giả chứ không phải viết theo đơn đặt hàng hay chịu áp lực của bất cứ phe nhóm chính trị nào. Cốt lõi giá trị của dòng văn học hải ngoại là ở chỗ này. Tôi đã nghĩ như vậy.

Có dịp tham dự một buổi ra mắt sách ý nghĩa hay nghe một chương trình ca nhạc có chủ đề, Tôi ra về mà lòng cứ nao nao, hình như tác giả, tác phẩm đó đã nói thay cho mình biết bao điều mà mình chưa kịp nói.

Tháng 5 trời Bolsa nắng vàng rực, nhìn lá cờ Việt Nam tung bay thong dong trong gió mà nhớ về tháng 5 của quê nhà mấy mươi năm trước với biết bao biến động tang thương xảy ra cho người dân miền Nam thì không thể nào nguôi ngoai được, nếu nói như người Mỹ “ I forgive but I can’t yet forget” thì đối với cộng đồng người Việt tại hải ngoại này sự phẩn uất căm hờn trước bao đau đớn mất mát trong những ngày đen tối của lịch sử sẽ mãi mãi không bao giờ quên. Tha thứ ư? Thong thả,  đợi đấy.

(Tháng 5/2019)
Trần Ngọc Ánh

Ý kiến bạn đọc
23/05/201913:58:22
Khách
Được may mắn thoát chết khỏi Cuộc Thảm Sát Hàng Loạt Người Do Thái Holocaust (bởi chế độ Đức Quốc Xã Hitler) , ông Edward Mosberg phát biểu:

" Quên và tha thứ cho cái chế độ tội phạm đó có nghĩa là quý vị đã giết các nạn nhân Holocaust đã chết đó thêm lần thứ hai. Chúng ta không thể để cho họ bị giết thêm một lần nữa . Chúng ta không có cái Quyền tha thứ chế độ tội phạm đó . Chỉ có những người đã chết mới là những nguời sở hữu cái quyền quyết định đó mà thôi .

“To forget and forgive would mean you killed the victims a second time,” he said. “We cannot allow them to be killed again. We have no right to forgive. Only the dead can forgive.”
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 816,461,410
Khi nói về biên giới, ai cũng nghĩ đến lằn ranh chia đôi giữa nước này với nước kia, mà ít ai nghĩ đến cái biên giới giữa cái sống và cái chết
Hàng năm, tuy không hẹn trước nhưng vợ chồng tôi cứ nhắm chừng con heo đất hơi nặng là lật đật đập ra mua vé lơn tơn về Việt Nam
Lâu nay tôi bị khó chịu ở cổ, rồi bị đau luôn cái chân bên phải. Mỗi lần muốn nhấc chân lên để bước đi, dù chỉ là một bước ngắn cũng đã là khó khăn lắm.
Chưa vào hè, Ontario, Đông CA có ngày nhiệt độ trên 100 độ F. Từ tiểu bang Texas trải dài qua vùng Trung Tây mưa lũ, nước ngập tràn sông Mississippi.
Năm đó, tôi theo bạn dự lễ ở nhà thờ, tình cờ ngồi bên cạnh một ông cụ trông ốm yếu, ho hen.
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2012, với những bài viết linh hoạt về đời sống tại Mỹ kèm theo hình ảnh hoặc tài liệu do ông thực hiện hoặc sưu tập. Sống động, cũng chẳng ngại sống sượng, bài viết của ông thường gây nhiều chú ý và bàn cãi. Một số đã được in thành sách "Xin Em Tấm Hình" và tập truyện mới, "Bắc Kỳ". Sau đây, thêm một bài viết mới.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước My từ tháng 5/2019. Ông cho biết tên là Dương Vũ, sang Mỹ từ năm 1975, khởi đầu định cư tại tiểu bang SC, và hiện đang sống ở Sacramento. Bút hiệu ông chọn là VuongVu (viết liền, không dấu.) Bài đầu tiên là hành trình di tản từ 30 tháng Tư, 1975, với nhiều chi tiết sống động. Sau đây là bài viết thứ hai.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ. Bà cho biết là nhà giáo về hưu, sống tại Canada. "Huế -Dallas" là bài viết đầu tiên kể về người chị và những kỷ niệm thời mới lớn của hai chị em tại Huế đã được phổ biến từ tháng Sáu 2019. Bài thứ hai, mới nhất, là một truyện tình khác thường, dữ dội như lời ca Phạm Duy, “Yêu người xong chết được ngày mai.” Nhân vật chính, một người nữ gốc Việt sinh tại Hoa Kỳ, và một chàng Argentina. Họ gặp nhau trong lễ hội hóa trang tại Venice. Chuyện được nàng và chàng trực tiếp kể bằng lời tự sự, cho thấy cách viết độc đáo của tác giả. Mong bà tiếp tục.
Tác giả đã nhận giải bán kết Viết Về Nước Mỹ 2002 với bài "Tiểu Hợp Chủng Quốc" kể về nơi cô làm việc, khi khủng bố tấn công nước Mỹ ngày 9 tháng 11 năm 2001. Viết về nước Mỹ sang năm thứ 15, cô nhận thêm giải danh dự với tự truyện về bệnh lãng tai bẩm sinh. Bài viết mới là một du ký tháng Bẩy, bên cạnh nơi thăm viếng chính là Smokies Mountain, có nhiều ghi nhận thú vị và hữu ích về chặng đường ngàn dặm lái xe qua 4 tiểu bang của nước Mỹ. Bài đăng 2 kỳ. Tiếp theo và hết.
Tác giả đã nhận giải bán kết Viết Về Nước Mỹ 2002 với bài "Tiểu Hợp Chủng Quốc" kể về nơi cô làm việc, khi khủng bố tấn công nước Mỹ ngày 9 tháng 11 năm 2001. Viết về nước Mỹ sang năm thứ 15, cô nhận thêm giải danh dự với tự truyện về bệnh lãng tai bẩm sinh. Bài viết mới là một du ký tháng Bẩy, bên cạnh nơi thăm viếng chính là Smokies Mountain, có nhiều ghi nhận thú vị và hữu ích về chặng đường ngàn dặm lái xe qua 4 tiểu bang của nước Mỹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.