Ma Trong Tù

18/03/202014:02:00(Xem: 32691)

Nguyễn Văn Tới                                                                   

Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018 và giải vinh danh Tác Phẩm 2019  Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ơng định cư tại Mỹ từ 1990, hiện làm việc theo một hợp đồng dân sự với quân đội Mỹ, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Đây là bài mới nhất của Ông. 

 

Nguyen Van Toi 01
Phòng 14, khu D, Alcatraz nơi có ma. Toàn cảnh trại giam Alcatraz từ trên cao. Ảnh internet.



Khi nói về chuyện ma thì hầu như ai cũng đồng ý rằng nhà tù là nơi có nhiều ma hơn mọi nơi khác. Đằng sau những song sắt, những bức tường cao lớn của trại giam, những cảnh tra tấn, ép cung tàn bạo đến chết diễn ra rất thường mà người bên ngoài không thể nào tưởng tượng được. Lại thêm những người tù chết oan, những người tù tự tử vì không chịu được cảnh cô độc trong những phòng giam không cửa sổ, linh hồn không thể siêu thoát sau khi chết, họ vẫn còn vương vấn nơi mà thân xác họ đã bị nhục hình.

Tôi có dịp đến San Francisco, California nên không thể không ghé qua thăm một nhà tù nổi tiếng của nước Mỹ, trại giam Alcatraz, hay còn được gọi là The Rock. Ngoài việc đây là nơi giam giữ những tù nhân nổi tiếng như AL Capone, Doc Barker, và George “machine gun” Kelly…, nó còn nổi tiếng có ma nên gợi trong tôi sự tò mò muốn so sánh nhà tù Mỹ và nhà tù Việt để coi ma Mỹ khác và giống ma Việt Nam ở chỗ nào, vì tôi đã có cái “hân hạnh” nếm mùi mấy trại tù Việt cộng khác nhau, và hơn nữa là gặp ma Việt trong trại giam Chí Hòa.

Bầu trời trong xanh, gió nhẹ, không khí mang nặng mùi biển, chiếc phà rời bến cảng 33 (Pier 33) ra đến trại Alcatraz mất khoảng 15 phút. Sau khi nói sơ qua lịch sử của trại, người hướng dẫn viên bắt đầu kể chúng tôi nghe nhiều chuyện ma khi đến thăm những phòng nhốt tù ở đây. Bà cho biết nhiều người làm việc ở đây đã gặp hay cảm nhận được những hồn ma bóng quế của nhiều tù nhân vẫn còn lảng vảng chưa siêu thoát, thỉnh thoảng vẫn hiện về than khóc hằng đêm. Họ đã từng nghe tiếng chân di chuyển hay những tiếng động lạ lùng, lẫn tiếng khóc than nỉ non khi đang đi tuần tra trong khu vực giam giữ; hoặc những lời thì thầm bên trong những bức tường, và những bóng hình di động trong những hành lang trại giam.

Nơi nhiều ma nhất là khu D, phòng Strip Cells, là nơi nhiều tù nhân bị hành hạ, lột truồng, và sống trong một căn phòng tối, chỉ được ăn ngày 1 lần với bánh mì khô và nước, không có bồn rửa mặt, nhưng có 1 lỗ trên nền nhà làm cầu tiêu. Tù nhân có thể bị biệt giam như thế đến 19 ngày cô độc, đói lạnh, nên họ tự tử rất nhiều. Phòng giam này được thiết kế để bẻ gãy tinh thần tù nhân cứng đầu nhất, bắt họ phải quy hàng và tuân theo luật lệ trại giam.

Nơi thứ hai là phòng biệt giam 14, khu D. Vào năm 1940, một tù nhân bị giam ở đó, nửa đêm anh ta la hét kinh hoàng rằng có một con vật gì đó, cặp mắt đỏ long lên sòng sọc, đang tấn công mình. Mặc cho hắn kêu gào kinh khiếp, không một cai tù nào thèm ngó ngàng đến. Sáng hôm sau, khi điểm danh, họ thấy hắn nằm chết, cổ bị bóp nghẹt đến tắt thở. Vài ngày sau, khi đếm số tù, thấy dư ra một người, họ cho biết thấy người tử tù đó đứng xếp hàng. Họ đi tới coi, thì người đó biến mất.

Sau này, khi trại giam này đã trở thành địa điểm cho khách du lịch đến coi, nhiều người cho biết đã cảm thấy lạnh sống lưng và cảm thấy 1 nỗi sợ hãi khi đến phòng này. Người hướng dẫn du lịch đưa chúng tôi đến coi những phòng giam nổi tiếng trong trại, kể cả bước vào căn buồng biệt giam của Al Capone vào những ngày cuối đời của hắn. Riêng tôi chẳng có cảm giác sợ hãi hay lạnh người khi bước vào bên trong và ngồi xuống những cái giường ở đó; chỉ thoáng qua trong đầu tôi là một cảm giác nao nao khó tả vì nơi đây gợi lại trong tôi hình ảnh buồn đau ngày cũ ở trại giam Chí Hòa. Tôi nhận thấy điều kiện sống và phòng giam giữ của Alcatraz 100 năm trước đây vẫn còn tốt hơn rất nhiều các trại tù ở Việt Nam sau năm 1975.

Trại giam Chí Hòa, ngày xưa chính phủ Việt Nam cộng hòa gọi là trại cải huấn Chí Hòa. Khám Chí Hòa do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo thuyết ngũ hành, bát quái nhưng phải bỏ dở vì thua cuộc chiến, và người Pháp trở lại hoàn thành công trình này. Tòa nhà là sự hòa hợp những nét căn bản của kiến trúc Pháp: kiên cố, kín đáo, mát mẻ, vừa mang nét huyền bí âm dương ngũ hành của phương Đông. Khám có hình bát giác với 8 cạnh đều nhau, 8 góc tượng trưng cho 8 quẻ: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Cẩn, Khảm, Đoài, Ly trong Kinh Dịch. Khám có 8 khu giam phạm nhân, xây hình bát giác vuông. Mỗi cạnh của bát quái trận đồ là một khu, lưng xây bịt kín ở phía ngoài còn phía trong toàn song sắt và mỗi khu có từ 10 đến 14 phòng giam.

Chí Hòa chỉ có một cửa vào nên người ta gọi đó là "cửa tử". Qua cửa này là hệ thống đường hầm thiết kế theo cung vị, nếu không được hướng dẫn, người đi vào sẽ bị mất phương hướng, giống như lọt vào một mê cung, không thể tự tìm đường ra được. Nhà tù được xây dựng để nhốt những người Việt Nam yêu nước chống lại chính quyền xâm lăng Nhật, Pháp nên có rất nhiều tù nhân đã chết oan ức hay bị nhục hình bỏ mạng khi bị giam giữ ở đây. Thời cộng sản chiếm miền Nam, nó là nơi kinh hoàng, chết chóc cho những người thua cuộc miền Nam. Oán khí ở nơi đây ngất trời trong thời gian này vì người chết quá nhiều, hơn hẳn trong cả hai thời kỳ Pháp, Nhật chiếm nước ta.

Năm 1983 khi tôi bị chuyển từ trại giam quận 1 qua phòng 5 khu AH khám Chí Hòa. Cạnh phòng tôi, chỉ cách 1 bức tường, là khu A, nơi các phòng giam tù tử hình. Ở đây, người tù tử hình bị cùm chân vào 1 thanh sắt dài; mùa Hè, họ chỉ mặc quần đùi, cởi trần và không được giữ bất cứ đồ thăm nuôi hay vật dụng cá nhân. Bọn cai tù theo dõi ngày đêm không để tù nhân dùng bất cứ đồ vật gì có thể tự tử, chúng có nhiệm vụ giữ tù nhân “phải sống” cho đến lúc họ sẽ “được chết”.

Thỉnh thoảng chúng tôi nghe tiếng mở khóa loảng xoảng lúc nửa đêm về sáng. Tiếng cai tù Việt Cộng lẫn đám trật tự xì xào nói chuyện khi điệu tử tù ra pháp trường, sau khi cho họ bữa ăn ân huệ cuối cùng, thường là 1 cái bánh bao, chai nước ngọt, và 2 điếu thuốc “có cán” hiệu Du Lịch. Thông thường thì họ làm không ồn ào lắm, nhưng đôi khi họ phải vật lộn, quát mắng, to tiếng với tử tù dù người đó đã bị còng cả tay. Những tiếng ú ớ, tắt nghẹn thoát ra từ người tử tù, miệng bị nhét 1 trái chanh hay 1 trái cóc với miếng vải buộc chặt bên ngoài. Có người bị nghẹt thở chết trước khi ra pháp trường. Thông thường thì họ không còn đi nổi vì bị cùm lâu ngày, bị kéo lê lên xe bít bùng và chở đi trường bắn ở Thủ Đức.

Những đêm dài im lặng, nằm thao thức không ngủ, trong sự tĩnh mịch cô liêu, cái không gian u mê, ám chướng này, lòng tôi dậy lên nỗi xót xa của kiếp tù; tôi nhìn được những đổi thay của đất trời bên ngoài song sắt, linh cảm được cái âm khí nặng nề lảng vảng quanh đây, nghe tiếng khóc than ai oán, tiếng rên rỉ, tiếng kể lể nức nở không biết của những tử tù hay của những linh hồn còn vất vưởng nơi trại giam. Âm thanh trong đêm trường từ xa đưa lại lúc rõ lúc không nghe rờn rợn. Một vài lần, tôi còn nghe được một giọng hát bi ai, thống thiết của bài “Hận Đồ Bàn”, rồi tiếng ngâm thơ sang sảng đầy hùng tráng bài “Hổ nhớ rừng” của Thế Lữ. Tiếng ngâm bi hùng của một chiến sĩ vô danh tranh đấu cho tự do, biết mình sắp lìa xa cõi đời vĩnh viễn, không còn gì để mất nên anh không sợ cai tù lẫn chính quyền. Những người trật tự cho biết anh là tù chính trị lãnh án tử hình. Bọn cai tù, mới đầu còn dọa nạt, có khi nhét giẻ vào miệng để bắt anh im, nhưng riết rồi cũng phải chịu thua, cứ để cho người tử tù này muốn làm gì thì làm.

Một đêm nọ, như thường lệ, dưới một bóng đèn tròn buồn rầu soi sáng trong phòng, tất cả mọi người tù đang say ngủ, nằm xếp lớp như cá hộp; tôi bị đánh thức bởi nhiều tiếng hét thất thanh xé tan sự im lặng trong phòng giam. Tiếp theo, thêm nhiều tiếng khóc to sợ hãi, rồi lan ra như một hiệu ứng giây chuyền, cả phòng 5 la hét kinh hoàng, mắt trợn trừng nhìn ra hướng song sắt. Tôi ngồi bật dậy, ngơ ngác nhìn quanh, hoảng hốt, không hiểu vì sao cả 80 chục con người cùng la làng như đang lên đồng, hình như họ nhìn thấy một cái gì đó. Hiệu ứng này lan qua mấy phòng kế bên, tất cả mấy chục phòng giam khu AH hét lên một cách kinh hãi, khắp nơi vang rền tiếng khóc lẫn tiếng hú thất thanh, làm 6 khu khác cùng thức dậy. Tiếng chân bọn cai tù chạy huỳnh huỵch, tiếng súng lên đạn, họ vừa chạy vừa la hét bắt mọi người im lặng, lập lại trật tự.

Riêng tôi vẫn còn chưa hoàn hồn, tôi nói như hét thật to vào lỗ tai người bạn tù kế bên hỏi chuyện gì đang xẩy ra; anh ta, tay chỉ ra phía cửa buồng giam, miệng lắp bắp những gì không rõ, mặt tái nhợt, đôi mắt lạc thần, cuối cùng bật ra được 1 chữ “ma”. Một lúc sau, khi tiếng la hét lắng xuống, tôi đi ra phía cửa nhìn về mấy khu kia, thấy tất cả mọi người lố nhố, tay bám vào song sắt, nhìn về hướng khu chúng tôi. Cả trại giam đều bị dựng dậy vì biến cố này. Tôi vẫn bướng bỉnh cho rằng đây là 1 hiệu ứng tự nhiên của những tù nhân, đang say ngủ, chợt nghe nhiều người kế bên la hoảng, mở mắt ra thấy khuôn mặt hốc hác, râu ria, nhợt nhạt giống ma của bạn tù kế bên đang há hốc cái miệng méo xệch, đang gào thét, nước miếng còn đọng 1 bên mép, thần hồn nát thần tính, nên cũng bật lên tiếng la mà không biết tại sao. Nếu ai không hét lên hãi hùng mới là chuyện lạ!

Sau này, tôi hỏi những tù nhân khác, họ cho biết đó là linh hồn “ông chúa ngục” về thăm lại nơi ông ta ở xưa kia. Chúa ngục là người đầu tiên chết trong tù này. Cứ vài năm một lần, có lẽ ông ta còn vướng mắc hay còn lưu luyến “chốn xưa”, ông lại về thăm. Khi trở về, chúa ngục lê xích sắt đi thăm tất cả các phòng khu AH. Tôi hỏi mấy bạn tù có thấy hình dáng chúa ngục ra sao? Người thì tả đó là một khuôn mặt tròn to như cái mâm, nhìn vào trong buồng giam. Người thì nói là một hình bóng đen thui, to lớn, lướt theo hàng lang và nhìn vô bên trong với cặp mắt đỏ lòm. Tôi không biết hình dáng ông chúa ngục ra sao, chẳng thấy ma hay thần thánh gì, mà cũng chẳng la hét được một tiếng nào, chắc sợ quá nên tôi cứng cả miệng.

Mấy người bạn tù cho rằng ai cũng thấy chúa ngục, chỉ mình tôi không, một là vì vía tôi quá nặng hoặc quá yếu, hai có lẽ do tôi nhát hít nên ma không cho thấy vì sợ tôi đứng tim chết vì sợ hãi. Nhưng có một điều tôi biết chắc là có nhiều người chết oan ức trong Khám Chí Hòa, linh hồn còn chưa siêu thoát nên âm khí ở khu AH rất nặng nề. Vì thế, trời thỉnh thoảng làm sấm sét đánh bể nóc nhà khu G để khai một cửa Sanh, cho oán khí được thoát ra, hồn người chết mới mong ra khỏi chốn ngục tù. Bác Phạm văn Hai, cựu giám đốc đề lao Chí Hòa thời VNCH trước 75, cũng ở tù chung phòng, kể rằng người ta đã cho lợp ngói trên nóc khu này mấy lần, nhưng vẫn bị sét đánh văng đi.

 


Nguyen Van Toi 02
Khu G, không lợp ngói.  Ở giữa sân, tháp nước hình thanh kiếm đâm xuống trấn yểm nhà tù. Khu A, khu tử hình, tất cả phòng đều xây bịt kín bằng gạch, không cửa sổ. Ảnh internet. Chú thích của tác giả.

Vài tháng sau, bọn cai tù lại chuyển tôi qua phòng 10, khu ED, chuyên nhốt tù chính trị và kinh tế. Những người đồng vụ với tôi ở các phòng giam khác, lầu trên hay dưới, cùng trong khu ED. Chúng tôi lại bị kêu lên hỏi cung. Người đầu vụ là anh Năm Th. bị cụt một chân, phải mang chân giả, anh bị chúng hành hạ và hỏi cung nhiều nhất khiến anh suy nhược và bệnh tật nhiều.

Một hôm, tôi bị bệnh rất nặng, chúng mới cho phép một trật tự dìu tôi xuống bệnh xá ở tầng trệt. Trên đường đi, tôi thấy ngoài sân, giữa trời nắng chang chang, có một tấm chiếu đắp lên một cái gì đó giống xác người. Tôi hỏi anh trật tự. Anh cho hay một tù nhân vừa chết nên để tạm đó chờ làm giấy tờ đem chôn. Như một thần giao cách cảm, tôi buộc miệng hỏi -Có biết tên người chết không? Anh trả lời – Th. Đen. Tôi tiếp -Phải anh Nguyễn Văn Th. cụt một chân không? Anh trật tự bước đến vén tấm chiếu lên, đúng là xác anh Năm Th. nằm đó, với 1 chân bị cụt mà không thấy cái chân giả đâu.

Người tôi lạnh toát và choáng váng. Tôi thầm khấn xin cho vong linh anh được yên nghỉ. Tôi hứa sẽ tìm mọi cách báo tin cho gia đình anh biết vì chính quyền cộng sản chỉ báo tin cho gia đình hay khi đã đem chôn tù nhân và không bao giờ cho đem xác về nhà. Sau khi y tá làm tiểu phẫu thuật, chúng cắt sống mà không có thuốc tê, tôi đau đớn đến tê dại, mắt đổ hào quang, chỉ được bôi 1 chút thuốc đỏ vào vết cắt, anh trật tự dìu tôi trở lại phòng giam. Tôi khấn thầm: “Anh Năm ơi, nếu sống khôn thác thiêng, hãy về báo em biết coi nội vụ mình có gì mới không nhé”. Ngày hôm đó, hình ảnh anh nằm chết phơi nắng giữa trời, chỉ đắp tấm chiếu rách, ám ảnh tôi không nguôi. Tôi liên tục đọc kinh cầu cho linh hồn anh siêu thoát.

Tối đến, tôi còn nhớ rõ, vì gần mùa Giáng Sinh, không khí bắt đầu se lạnh. Tôi ngủ chung chiếu, chung mùng với thầy Thích Trí Siêu (1), tục danh Lê Mạnh Thát, vụ án chùa Già Lam, chung vụ với thày Tuệ Sỹ và Thượng Tọa Thích Trí Thủ (RIP). Chúng tôi nằm dưới nền xi măng, đầu quay ra ngoài phía hành lang, dựa sát tường và chấn song sắt. Bức tường chỉ cao quá đầu gối, khoảng 40 cm, từ tường trở lên là những song sắt cao đụng trần nhà. Cái hành lang rộng 3 thước chia cách phòng giam và không gian bên ngoài, với một hàng song sắt to gần bằng cổ tay. Đang ngủ say, bất ngờ tôi cảm giác ai đó từ ngoài hành lang, chạm tay vào đầu và lay tôi dậy. Tôi mệt mỏi vì trưa nay mất nhiều máu trong cuộc tiểu phẫu, nên còn nửa tỉnh nửa mê. Bàn tay lại lay đầu tôi lần nữa.

Tội trở mình, mắt vẫn nhắm nghiền, duỗi thẳng chân ra với tư thế nằm ngửa, tự nhủ chắc mình đang mơ. Tôi cố dỗ giấc ngủ trở lại. Nhưng tôi lại bị đánh thức lần thứ ba, lần này có vẻ mạnh mẽ hơn. Tôi tỉnh hẳn và cố ngước mắt lên nhìn ngược ra ngoài song sắt để coi ai phá giấc ngủ mình. Cổ tôi đột nhiên cứng ngắc không quay qua quay lại được nữa. Tôi liếc mắt qua nhìn thày T.T.S., tôi hét to – “Thầy ơi, đánh thức em dậy”. Thầy mở mắt, nhìn tôi một lúc, rồi quay mặt qua bên kia. Tôi lại tiếp tục la –“Thầy, thầy, cứu em, thầy ơi”. Thầy trở mình nhìn tôi lần nữa với ánh mắt bực bội và lại quay đi. Tôi tức quá thầm trách ông thầy hôm nay sao kỳ cục, không thèm giúp mình.

Tôi rùng mình, tay chân tê dại lạnh như đá, tóc gáy dựng đứng, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Lấy hết sức bình sinh, tôi vùng xoay cả người lại được qua bên phải, ngồi bật dậy, nhìn ra phía ngoài hành lang, tôi như nhìn thấy một làn khói lướt qua và biến mất. Tôi tự tát vô mặt mình một cái thật đau coi tôi đang mơ hay tỉnh. Không gian lặng như tờ, một luồng hơi lạnh chạy dọc theo xương sống của tôi trong khi mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Ngoài hành lang giờ này không ai được phép đi lại, trừ cai tù, tụi nó chỉ lên đây khi có người gần chết xin cầu cứu. Từ lúc đó, tôi thức luôn đến sáng trong khi miệng vẫn lần chuỗi Mân Côi không nghỉ.

Tiếng kẻng báo hiệu thức giấc trỗi lên, tôi đứng dậy xếp mền mùng cho cả hai thầy trò. Tôi trách – “Sao đêm qua, em kêu giúp mà thầy lại làm ngơ?” Thầy trả lời – “Ta nghe mi la to lắm, ta tưởng mi gặp ác mộng, nên thôi để cho mi ngủ”. Tôi nói – “Em gặp ma, cổ em cứng đơ không nhúc nhích được. Nếu thầy đánh thức em dậy thì em đâu bị”.

Tôi thuật lại cho thầy nghe về anh đầu vụ chết hôm qua ở bệnh xá và những lời cầu xin ra sao. Thầy nói –“Mi Công Giáo nên mi không tin có linh hồn người chết vẫn chưa siêu thoát còn lảng vảng quanh đây. Bên ta, Phật Giáo, chúng ta tin dù người đã qua đời, nhưng linh hồn họ còn ở lại một thời gian, chờ tụng kinh cầu siêu, rồi họ mới lìa cõi trần vĩnh viễn. Ta tin linh hồn vừa qua đời muốn nhắn nhủ mi điều gì đó”. Thầy vừa dứt lời, cửa sắt khu loảng xoảng mở ra, một tên công an cai tù đi trong hành lang ngang qua phòng 9, đến mở cửa phòng 10, và kêu đúng tên tôi đi làm việc. Thầy T.T.S. nhìn tôi với cái nhìn đầy ý nghĩa trong khi tôi vừa mặc bộ đồ xá xẩu tù, vừa vui lại vừa lo, không biết chuyện gì sẽ đến sau mấy năm nội vụ nằm im không nhúc nhích.

Tôi trở lại phòng sau hơn một giờ làm việc với công an chấp pháp. Chúng quyết định đưa vụ chúng tôi ra tòa án thành phố để xử. Tôi không biết nên vui hay buồn vì dầu sao cũng có chút gì đó khởi động, còn hơn cứ im lìm năm này sang năm khác, làm cho người tù chết dần mòn cả tinh thần lẫn thể xác vì mất hy vọng. Hệ thống nhà tù cộng sản, họ cố tình không ngó ngàng gì đến hồ sơ tù. Họ để cho người tù chết dần mòn trong tuyệt vọng, cô đơn, bệnh tật, và đói khát. Một hình thức giết người thầm lặng và tàn ác. Họ không để tù nhân chết đói mà đói… đến chết.

Trong đời tôi, lúc còn ở ngoài, chưa bao giờ tôi gặp ma hay một loại thần linh gì khác cho đến ngày chuyện này xảy ra ở trong tù. Tôi vẫn tin rằng sau khi chết, linh hồn con người vẫn giữ lại được những ký ức và cảm xúc lúc còn ở thế gian, vì thế anh Năm trở lại cho tôi hay những dấu chỉ về việc ra tòa của nhóm chúng tôi. Trong thế giới chúng ta đang sống, vẫn hiện hữu một thế giới bên kia của những người đã khuất, vì một nguyên do thần bí nào đó, họ vẫn liên lạc với thế giới chúng ta bằng cách này cách khác, hoặc xâm nhập vào trong giấc mơ, và chúng ta gọi họ là MA.

 

REFERENCES:

  1. https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_M%E1%BA%A1nh_Th%C3%A1t

Thày Thích Trí Siêu và Tuệ Sỹ bị bắt năm 1984, bị xử án Tử Hình năm 1988, nhờ hội Ân Xá Quốc Tế Amnesty International can thiệp, giảm xuống còn 20 năm, được tha về năm 2004, sau khi ra lao động đủ 14 năm ở trại Z 30A, dưới chân núi Chứa Chan (chúng tôi gọi là “ở tù Chán Chưa”), Xuân Lộc. Hai thày TTS và Tuệ Sỹ có bị giam ở khu A, phòng tử hình một thời gian ngắn, sau giảm án được đưa qua khu FG chờ đi tập trung lao động năm 1990. Sau khi ra nước ngoài, tôi đọc báo thấy Thày TTS được chính quyền cộng sản cho phép tổ chức lễ VESAK đầu tiên, ngày Phật Đản ở Việt Nam vào năm 2012.         

 

Ý kiến bạn đọc
02/05/202017:42:16
Khách
MONG MONG DUOC DOC THEM BAI CUA ANH.
19/03/202016:18:32
Khách
Cám ơn chị HCY, T. Huong, PTKD, và NK ghé qua thưởng thức chuyện ma. Hồi đó em cũng như nhiều người đi ngang qua nhưng không biết bên trong ra sao cho tới khi bị "đăng ký hộ khẩu" vô trong trỏng mới biết nó cho ở FREE không lấy tiền, còn cho lính gác khi mình đi ngủ. Khốn nạn 1 điều là nó cho ăn ngày 2 chén cơm không có đồ ăn, chỉ có canh đại dương vì toàn nước.
19/03/202004:09:12
Khách
Ở Saigon bao nhiêu năm mà cũng không biết gì về khám Chí Hoà. Nhờ đọc bài viết này mà Biết sơ hình ảnh bên ngoài và sinh hoạt bên trong nhả tù. Bài viết mạch lạc, rõ ràng, hồi hộp, như nhìn thấy ma, vì đang sợ ma Coronavirus. Chúc tác giả bình an trong mùa cúm.
19/03/202000:47:20
Khách
Cám ơn tác giả Nguyễn Văn Tới đã kể lại cho mọi người biết về trại giam tù ở khám Chí Hoà của thời XHCN sau 1975. Tôi ở ngay khu Ngã Ba Ông Tạ, mà có hay biết chi đâu. Tôi cũng sợ ma lắm, nhưng lại thích đọc truyện ma, nhất là "MA trong tù" của NVT kể, sống động và hay quá chừng!!
19/03/202000:22:51
Khách
Mong được đọc thêm nhiều bài nữa của tác giả !
18/03/202022:45:51
Khách
Đề tài hấp dẫn với những câu chuyện thu hút và sống động, gồm cả những kinh nghiệm của chính tác giả, khiến người đọc vô cùng hồi hộp. Trước đây, có một nhóm người Mỹ chuyên đi sưu tầm những câu chuyện ma; họ có vào một khu tù nổi tiếng, với những chi tiết lạnh xương sống. Cám ơn tác giả Nguyễn Văn Tới vì truyện hay, và cũng vì tinh thần bất khuất chống giặc Cộng.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 851,527
Hôm nay trời trong, nắng đẹp, không âm u như mọi hôm. Mùa Thu mát mẻ dịu dàng. Một số lá vàng còn sót trên cành từ từ rơi theo từng cơn gió nhẹ. Đám cúc nhiều màu: vàng, tím trước sân đang nở rộ. Vài con sóc nhanh nhẹn chạy qua lại rồi leo lên cây, con trước con sau như đùa nhau. Sân sau họ hàng nhà nai, ba con lớn hai con nhỏ thong thả, nhơn nhơ ăn cỏ non. Hai con nai nhỏ này thật mau lớn. Tháng trước chúng còn lẽo đẽo theo gần mẹ, nay đi cách khoảng xa xa. Chúng rất dạn, chẳng hề sợ hãi khi thấy bóng người.
Rời xa quê nhà đã rất lâu nhưng tôi vẫn nhớ những củ khoai ngày cũ mà mình ưa thích! Mỗi lần đi vào tiệm thực phẩm hay để ý tìm nhưng tuyệt nhiên không thấy! Cách đây khoảng hơn năm, rất tình cờ tôi nhìn thấy những củ khoai lang tím nằm bên cạnh những loại khoai khác trong một tiệm bán thực phẩm gần nhà! Ôi, xa xôi ngộ cố tri! Vui gì đâu! Mua ngay một mớ mang về, mặc dù họ bán không rẻ, $3.99/1 pound, trong khi các loại khoai khác chỉ $1.49 hoặc $1.99/1pound! Bán mắc như thế nhưng không phải lúc nào chúng cũng hiện diện trên quầy hàng! Hên thì tuần nào cũng có, không hên thì 2, 3 tuần mới có một lần!
Tác giả là cây viết quen thuộc của chương trình VVNM, được nhận giải “Danh dự” và giải chung kết “Vinh danh tác phẩm”. Ông về hưu và đang định cư tại Orange County.
Tuổi mới lớn và mối tình đầu với nhiều say đắm, hai đứa lén lút trong mỗi lần hẹn hò vì gia đình em khe khắt, ngăn cấm cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối này, loay hoay thế nào thì em có thai trước ngày cưới, Mẹ em giận dữ biết bao nhiêu, nhưng cũng ép lòng cho tổ chức đám cưới, chính xác là bên nhà em đình đám để khỏi tai tiếng với họ hàng, đàng trai không có ai đến vì mặc cảm, tôi nghèo đến độ phải mượn bạn bộ đồ vest cho tươm tất để làm chú rể, không có rước dâu hay quà cáp linh đình, tôi biết em không vui nhưng vì yêu tôi , em chấp nhận mọi thiệt thòi trong ngày thành hôn trọng đại của một thời con gái. Tôi cảm kích tình yêu của em và thấy như mình có tội, cái tội quá nghèo không xứng tầm với em.
Đôi dòng về tác giả: -Tên thật: Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1966 - Là cô giáo tiểu học khi còn ở Việt Nam -Vượt biên và sống ở trại tỵ nạn Thailand từ 1989-1993 -Định cư tại Canada từ 1994 đến nay.
Nhớ lại lúc mới qua Mỹ, đám cưới kỷ niệm đúng ngày Noel để tiện con cháu về nhà nghỉ lễ, và bà con từ xa đến. Lúc đó gia đình chỉ khoảng 20 người vì còn nhiều em chưa lập gia đình. Các cô các chú lấy chồng lấy vợ tăng dần thêm nhiều cháu, hiện tại đại gia đình đã vượt hơn bốn mươi người, điều may mắn con cái ở gần ngôi nhà của ba mẹ chỉ khoảng 10 phút, 15 phút hay xa lắm chỉ mất 30 phút lái xe. Ba mẹ chồng tôi luôn nhớ người đã khuất, hạnh phúc của ông bà mong có ngôi nhà Từ Đường thờ cúng từ vế Cố Ngoại Nội trở xuống, ngoài ra còn thêm cậu, cô, dì...v...v... Nhập gia tùy tục… Ngoài những buổi kỵ giỗ, con cái họp lại vào dịp lễ Thanksgiving, Noel, Newyear countdown và Tết Việt Nam .
Tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2013. Năm 2019, Tác giả nhận thêm giải Chung Kết Vinh Danh Tác Giả Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ hay còn gọi là giải Hoa Hậu. Tốt nghiệp Y Khoa Huế, thời chiến tranh Bác sĩ Vĩnh Chánh đã là Y Sĩ Trưởng binh chủng Nhảy Dù.
Tác giả đã dự Viết Về Nước Mỹ từ hơn 10 năm trước và mới nhận giải Viết Về Nước Mỹ Đặc biêt 2018 và giải Danh dự 2019. Bài đầu tiên của ông là "Kinh 5 Dị Nhân" kể về vùng quê, nơi có hơn 1000 người -phân nửa dân làng- vượt biên mà tới hơn 400 người tử vong- Hiện ông đang là cư dân Orlando, Florida, vùng đất rất quen với bão lụt.
Lời tòa soạn: Độc giả theo dõi Viết Về Nước Mỹ hẳn quen thuộc với ngòi bút Nguyễn Trung Tây. Tác giả là một linh mục dòng Ngôi Lời, và là người nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2010, khi ấy Tác Giả đang làm việc với thổ dân các thôn làng hẻo lánh vùng sa mạc miền Trung Úc Châu, không kịp về lãnh giải. Cụ bà Hà Thị Phức, năm ấy 86 tuổi, là nhân vật chính bài “Mẹ, Mẹ Tôi” của tác giả từ San Jose đã bay về nhận giải thay người con linh mục viết văn. Hôm nay, nhận tin Bà Cố đã được Chúa gọi về, Việt Báo và toàn ban tuyển chọn Viết Về Nước Mỹ xin thành kính phân ưu cùng tác giả Nguyễn Trung Tây và cùng dâng lời cầu nguyện cho linh hồn Bà Cố Maria Hà Thị Phức sớm an hưởng nhan thánh Chúa. Xin đăng lại bài “Mẹ, Mẹ Tôi” để tưởng nhớ.
Lịch sử nhân loại đã từng diễn ra bao nhiêu trận chiến kinh hoàng, xương chất thành núi máu chảy thành sông vì chuyện màu cờ sắc áo. Với người Việt nam thì ai quên được bức ảnh những người lính Thuỷ quân lục chiến của quân đội Việt nam Cộng hoà cắm cờ quốc gia sau khi tái chiếm Cổ thành ở Quảng trị vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Có thể đó là tấm ảnh đã làm thay đổi cậu bé tôi vì chào cờ mỗi sáng thứ hai đầu tuần ở sân trường học, cậu bé tôi chỉ chăm lo cho bộ đồng phục của mình thẳng thớm, cột dây giày đã đúng cách chưa để không bị phạt
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.