XUÂN MUỘN

24/01/202000:00:00(Xem: 4566)

 

NTRUNG11
Hình minh họa: Nguyễn Trung


L
ật bật mà Tết lại sắp tới. Làng xóm đó đây thảy đều chộn rộn đón xuân về, mỗi nhà mỗi kiểu. Mấy năm trước, lúc nào cô Thơm cũng thấy lòng mình dửng dưng khi mùa xuân đang trở lại. Dấu hiệu của mùa xuân, đối với cô Thơm, là những gốc mai già cỗi cả trăm năm bắt đầu rụng lá, như những cô gái e ấp muốn khoác vào bộ áo mới để đón xuân. Trong một trang của cuốn nhật ký của mình, có lần cô đã ngậm ngùi  ghi lại những dòng sau: “Tết sắp về rồi đó. Mai vàng đã nở lưa thưa như lòng ta lẻ tẻ. Ôi, mùa xuân của ai chớ nào phải mùa xuân của ta!”

            Ba mươi mấy mùa xuân trôi qua rồi, cô Thơm vẫn phòng không gối chiếc. Bạn bè cùng lứa của cô ai nấy đã yên bề gia thất hết, lắm đứa đã tay ẵm tay bồng. Ở nhà quê, không thiếu những cô gái đi lấy chồng lúc mới mười tám, mười chín tuổi. Con gái mà “hăm đi hăm lại” đã kỳ cục rồi, chớ đừng nói tới thứ “băm tới băm lui” như cô. Nỗi buồn âm thầm của cô mỗi năm lại càng thấm thía mỗi độ xuân về. Ai ưa tết nhất thì ưa, chớ cô lại còn ghét Tết nữa là khác.

            Kể cũng lạ, từ thuở còn là nữ sinh cho đến khi rời sách vở, chưa một lần có người thanh niên nào để mắt tới cô Thơm. Nhà có ba chị em, hai gái một trai. Cô Thơm là chị lớn. Kế cô là Ngát, nhỏ hơn cô mà đã có chồng, ra riêng, được thằng cu tí hai tuổi. Thằng em út tên Báu, ăn chưa no, lo chưa tới, học ít chơi nhiều, chẳng được tích sự gì trong nhà này hết. Ngày này qua ngày khác, cô Thơm lặng lẽ ngồi dệt chiếu cùng với má cô. Công việc này, ngày trước, là của Thơm và Ngát. Tới khi Ngát đi lấy chồng, má cô mới thế chỗ con gái. Cô Thơm như một diễn viên nồng cốt đóng hoài một vai trong vở tuồng đã thay đào đổi kép. Tính ra, cô đã dệt chiếu gần hết quãng đời thiếu nữ của mình, bắt đầu đâu từ lúc chín, mười tuổi cho đến tận bây giờ. Đều đặn như cái đồng hồ lên dây cót của ông ngoại để lại treo trên tường trong gian phòng thờ, hai má con chăm chỉ dệt chiếu buổi sáng, nghỉ ăn trưa, rồi lại tiếp tục cho đến khi trời sụp tối. Má cô ngồi dập go thoăn thoắt như một cái máy, còn cô cũng lanh lẹ không kém, tay liên lục văng cói vào đường dệt của má. Những sợi cói nhuộm đủ màu xanh đỏ, loè loẹt như người thiếu nữ miền quê đỏm dáng, dần dần được thành hình theo một khuôn mẫu sẵn có, thành những tấm chiếu đầy đủ hoạ tiết mà ngày nào cũng như ngày nào hai má con hoàn tất và xếp chồng ngay ngắn lên nhau, đợi ngày giao cho bạn hàng.

            Trong khi làm việc, hai má con có lúc không ai nói với nhau lời nào. Chỉ nghe tiếng go dập đều đều, tiếng cói kêu lách tách, lẫn tiếng chim hót đâu đó trên cây, hay tiếng gà eo óc gáy trong sân. Có lúc hai má con cũng vừa làm vừa nói chuyện nói nhau, phần lớn là những chuyện vu vơ ở làng trên xóm dưới, mà cũng có khi là về đề tài mà cô Thơm muốn tránh. Đó là những lúc má cô nhìn cô, thở dài nói:

-          Thơm à, má cũng rầu cho con quá. Ba má già rồi, chỉ mong con cái yên bề gia thất để có cháu ẵm bồng là một, mà cũng để ba má yên lòng nhắm mắt, không phải lo nghĩ gì nữa.

Cô Thơm tránh ánh nhìn của má, nói giọng rời rạc:

-          Má nói gì mà nghe thảm vậy. Đàn bà con gái đâu phải ai lớn lên cũng phải lấy chồng, sanh con đẻ cái đâu má. Nếu con cũng đi lấy chồng thì giờ phút này ai còn ngồi dệt chiếu với má đây chớ?

Má cô bực mình:

-          Tao đâu có cần mày ngồi đây dệt chiếu! Tao chỉ muốn mày bằng chị bằng em, cũng có gia đình gia điếc như con gái người ta. Con không biết chớ mỗi lần má ra ngoài, bà con chòm xóm người này người kia cứ xúm vô hỏi chừng nào con có chồng. Những lúc đó má chỉ muốn độn thổ mà thôi.

Cô Thơm cự nự, vùng vằng văng những sợi cói vào go:

-          Hơi đâu má để ý tới những kẻ xấu miệng đó. Bộ không có chồng là một cái tội hay sao? Mà có chồng cũng có gì bảo đảm là có hạnh phúc đâu. Má không thấy con Lan con bà Sáu sao? Chồng gì mà bài bạc, say sưa tối ngày. Nó khóc lên khóc xuống với con hoài. Lấy chồng mà kiểu đó thì con không có ham!

Tay má vẫn đều đều dập go, nhưng mắt má thì háy cô một cái thiệt dài:

-          Ai biểu mày ngó chi mấy con đó? Sao mày không ngó con Hồng kìa? Chồng nó nâng nó như trứng mỏng, hứng nó như hứng hoa đó.

Cô Thơm muốn ứa nước mắt:

-          Duyên ai phận nấy chớ má! Con có muốn như vầy hoài đâu. Má đi hỏi ông trời đi, tại sao con tới tuổi này mà chưa có ai tới rước đi cho ba má rảnh tay. Con làm sao biết được!

Mỗi khi câu chuyện tới chỗ căng như vậy, một trong hai người thường làm thinh trước để tình hình khỏi trở nên tồi tệ hơn. Rồi hai má con lại im lặng, dán mắt vào những sợi cói đủ màu. Những sợi cói vẫn vô tình, vui vẻ kết hợp với nhau dưới đôi bàn tay dường như đang bị người điều khiển hậm hực trút hết những bực dọc vào chúng, thành những mảng dệt màu mè, nét nào ra nét đó.

Nhưng năm nay thì khác. Cảm xúc thờ ơ, lãnh đạm của cô Thơm đối với mùa xuân đang về không còn nữa. Trong hồn cô đang có một làn gió mới lạ thổi vào, biến cô thành một con người khác. Mọi vật chung quanh cô, những điều mà năm nào cũng như năm nào vẫn thường diễn ra để báo mùa xuân sắp tới, đột nhiên trở thành những dấu hiệu diệu kỳ, làm cô cũng nao nức chờ xuân như bao người khác.

Số là năm ngoái, nhân thằng Báu tháng nào cũng đem học bạ về nhà với toàn những điểm thấp về toán và tập làm văn, ba cô Thơm có mướn thầy Huy ở thôn dưới về kèm cặp cho nó. Thiệt tình mà nói, mới đầu sự xuất hiện của thầy trong nhà mình không làm cô Thơm để tâm tới. Thường ngày thì thầy chỉ gật đầu chào cô khi nhác thấy cô ở đầu hè hay đang ngồi dệt chiếu với má cô trong cái chái lợp tranh bên hông nhà. Những lúc như vậy, cô cũng khẽ gật đầu chào lại thầy cho có lệ, trong đầu vẫn đeo đuổi một dòng tư tưởng nào đó.

Cho đến một bữa. Hôm ấy, thầy Huy vừa dạy xong bài cho thằng Báu. Ba má cô đi vắng hết, đến thăm một người bà con vừa mới bệnh dậy. Thằng Báu hân hoan xếp sách vở, chạy ào ra sân. Cô Thơm đang lúi húi tưới nước cho những chậu bông vạn thọ đầu hè thì thầy Huy tiến lại. Thầy đằng hắng nho nhỏ mấy cái đặng cô khỏi giựt mình rồi mới cất tiếng chào. Thầy hỏi:

-          Bữa nay hai bác đi vắng, cô nghỉ dệt chiếu với bác gái há?

Cô Thơm hơi luống cuống. Lần đầu tiên thầy Huy đứng cách cô với một cự ly khá gần. Cô lặng người đi một giây rồi mới lấy lại bình tĩnh, trả lời:

-          Dạ, lâu lâu cũng phải có một ngày nghỉ xả hơi chớ thầy!

Thầy Huy mỉm cười, lần đầu tiên cô Thơm mới thấy thầy cười. Nụ cười của thầy làm cho gương mặt vốn dĩ trông nghiêm khắc, mô phạm của thầy bỗng rạng rỡ hẳn lên, khiến cô Thơm mường tượng tới một cái mống trời đủ màu xuất hiện sau một cơn mưa dài. Giữ nguyên nụ cười hiếm thấy trên môi, thầy Huy bảo:

-          Tôi muốn cho cô biết đặng cô mừng là em Báu học hành tấn tới lắm. Tháng vừa rồi điểm toán và làm văn của em lên hẳn, cô à!

Cô Thơm cũng cười theo thầy:

-          Vậy thì phải cám ơn thầy nhiều lắm. Thằng Báu nhà này làm biếng hết chỗ chê thầy ơi!   

Thầy Huy nói giọng vừa dễ dãi, vừa ra vẻ giáo điều:

-          Con trai nó vậy đó cô! Đứa nào cũng ham chơi, nhưng rất thông minh. Em Báu học đâu nhớ đó, tôi vừa bụng lắm.

Trong lúc thầy Huy đang nói, cô Thơm kín đáo quan sát nét mặt của thầy. Trời đất, tại sao hồi giờ cô không để ý đến gương mặt vừa đĩnh đạc, vừa sáng sủa của thầy vậy chớ? Nước da của thầy ngăm ngăm, rám nắng một cách khoẻ mạnh. Đôi mắt đen láy của thầy ngó thiệt tinh anh dưới cặp chưn mày rậm rạp. Mũi thầy thon và thẳng, làm tăng vẻ cương nghị cho toàn khuôn mặt thầy, cộng thêm cái miệng rộng vừa vừa, không dư không thiếu. Và, chèng đéc ơi, hai cái má lúm đồng tiền của thầy mới có duyên làm sao!

Từ lúc đó trở đi, thầy Huy nói gì cô cũng không còn hiểu nữa. Thầy cứ tiếp tục nói, cô cứ nghe và thỉnh thoảng lại mỉm cười mà kỳ thiệt cô không biết ất giáp gì ráo trọi. Cả người cô nghe cứ lâng lâng như trong một giấc ngủ buổi xế trưa, thiệt nhẹ nhàng, êm ái. Tới lúc thầy Huy từ giã cô ra về, cô mới như giựt mình tỉnh dậy, lắp bắp chào lại thầy. Thầy Huy đã khuất bóng sau rặng tre trước ngõ rồi mà cô Thơm vẫn còn đứng đó, ngẩn ngơ, tay cầm khư khư cái bình tưới nước, không biết mình phải làm gì. Buổi trưa hôm đó, trời đất vùng quê vẫn êm đềm như bao giờ, nhưng trong lòng cô Thơm có một sự thay đổi vừa lớn lao, vừa khó diễn tả.

Sau bữa đó, thầy Huy lúc nào cũng kiếm cớ nói chuyện này chuyện nọ với cô Thơm sau khi dạy thằng Báu xong. Về phần cô, cô cũng phải tìm cách làm ra vẻ vô tình rảnh rỗi để thầy có dịp tới bắt chuyện. Bữa nào rảnh rang sẵn thì không nói, còn bữa nào cô đang mắc dệt chiếu với má cô thì cô phải lấy nê đi uống nước hay làm chuyện gì đó. Rồi cô giả ngộ như tình cờ đi ngang cái bàn mà thầy trò đang lục tục xếp dọn để kết thúc buổi học. Vậy là đôi bên cùng có dịp để để trao tiếng đổi lời, tuy không đâu vô đâu mà không bao giờ thấy ngán. Rồi có một bữa, thầy Huy ngỏ lời mời cô đi chơi chợ Tết ban đêm ở thôn dưới. Cô Thơm giả bộ như đắn đo một chút rồi mới nhận. lời. Đương nhiên là sau đó cô phải giấu má cô, chỉ nói là đi chợ Tết với mấy cô bạn học cũ, chớ ai dại gì mà khai đi chơi với đàn ông con trai, nghe không đứng đắn chút nào!

Cái ngày hẹn đi chợ Tết với thầy Huy sao mà chờ hoài chưa thấy tới! Cô Thơm bồn chồn ra mặt. Ngồi dệt chiếu với má mà đầu óc cô cứ ở đâu đâu. Nhiều lúc cô văng một sợi cói xém chút nữa là trật ra khỏi go. Má cô lâu lâu lại liếc xéo cô một cái, muốn hỏi tại sao hổm rày cô làm việc coi bộ tắc trách như vầy, nhưng bà lại thôi. Năm hết Tết tới, một sự nhịn là chín sự lành. Con nhỏ in hình như đang khó ăn khó ở. Nói qua nói lại với nó không chừng lại sinh ra cãi cọ lôi thôi, mất hết vui mấy ngày cuối năm cuối tháng.

Buổi chiều của đêm chợ Tết, cô Thơm xin má nghỉ sớm. Cô tắm bằng nước bông bưởi. Cô chải đầu thiệt kỹ, chải tới chải lui mà vẫn chưa bằng lòng. Cô bận một cái áo bà ba phơn phớt hồng với cái quần sa-tanh đen, đi đôi guốc mộc còn mới tinh. Từ lúc còn đi học, cô không bao giờ quen trang điểm, môi son, má phấn như các bạn đồng lứa hay các cô gái thành thị.Theo quan niệm riêng của cô, đẹp mà phải nhờ thứ này thứ kia phụ trợ thì đâu có đẹp cái nỗi gì. Cô chỉ thường rửa mặt với nước vo gạo để giữ cho làn da luôn sáng láng. Cặp chưn mày của cô thì công nhận cô có chịu khó tỉa tót thiệt, nhưng nó là của cô, cô không có thêm cái gì vô hết. Công bình mà nói, ông trời cũng ban cho cô nhiều nét dễ coi trên khuôn mặt trái soan của của cô. Mũi cô dọc dừa, mắt cô có hàng lông mi rậm và cong, còn cái miệng của cô thì nhìn như lúc nào cũng hơi chúm chím cười.

Từ nhà đến thôn bên, suốt đường đi cô Thơm thấy trong lòng dấy lên một niềm vui rộn rã, khó kiềm chế. Mùa xuân chưa về trong trời đất nhưng nó đã ngự trị trong lòng cô từ lúc nào. Đôi chân cô đi thoăn thoắt, cố cho mau tới chợ. Thầy Huy đã đứng sẵn đợi cô nơi điểm hẹn. Cả hai háo hức hoà vào dòng người đi chợ Tết. Thầy Huy vừa đi thủ thỉ mấy câu gì đó mà cô không nghe được vì những âm thanh ầm ĩ chung quanh. Tiếng người cười nói, kêu nhau í ới. Nhạc xuân từ mấy quầy trò chơi toả ra, quyện vào nhau thành một khúc đồng ca khó hiểu mà cũng hay hay. Lâu lâu cô Thơm lại mỉm cười với thầy Huy một cái, ý chừng như cho thầy thấy cô hiểu thầy nói gì. Bữa nay cô Thơm ít nói một cách lạ thường. Những lúc nói chuyện với thầy Huy ở nhà, cô cũng hoạt bát lắm. Nhưng hôm nay cô phải tự kiểm soát, không cho mình nói nhiều, đặng thầy Huy khỏi đánh giá mình là vui quá trớn, ăn nói lung tung. Tới lúc cô Thơm cảm thấy bàn tay ấm áp của thầy Huy nắm lấy tay mình trong đám đông, thình lình cô rùng mình liên tiếp mấy cái. Cô ngây ngất, muốn lả đi trong cái cảm giác mới lạ lần đầu tiên mới có. Thầy Huy như cũng đang gồng mình làm ra vẻ tự nhiên với hành động táo bạo của mình. Cô Thơm để yên cho bàn tay nhỏ nhắn của mình nằm gọn trong bàn tay rắn chắc, tự tin của thầy Huy. Hai người đi lướt qua những gian hàng Tết, trong không gian lẫn lộn mùi thức ăn, mùi pháo, mùi hoa, như đang đi trong một giấc chiêm bao mà không muốn thức dậy.

Thầy Huy và cô Thơm đi hết khu chợ Tết, con đường thôn trở nên vắng vẻ hơn một chút. Dòng người vẫn tiếp tục đổ vào chợ, đi ngược chiều với hai người. Đi thêm một chút nữa là thấy con sông nhỏ trong thôn. Đêm nay trời dịu mát. Gió từ ngoài sông thổi vào hiu hiu thiệt là dễ chịu. Dân trong thôn đổ vào chợ Tết hết nên trên bờ sông chỉ có thầy Huy và cô Thơm. Đêm nay mà có trăng nữa thì số dách, thầy Huy dám còn làm được mấy câu thơ tả cảnh cả tình nữa không biết chừng. Nhưng đêm cũng không tối tăm lắm, chắc là cũng nhờ mấy ngôi sao lác đác trên trời làm sáng lên chút đỉnh. Tay thầy Huy vẫn còn nắm chặt lấy tay cô Thơm. Bây giờ thì hai người đã đứng gần nhau lắm rồi. Cô có thể nghe được hơi thở gấp gáp của thầy Huy. Người thầy toát nhẹ ra cái mùi nồng nồng, ngai ngái của đàn ông mà bây giờ cô Thơm mới biết là như thế nào. Cô biết là thầy cũng cảm thấy tay cô, và cả toàn thân của cô, đang run rẩy nhè nhẹ như những chiếc lá non. Dòng sông thật yên tĩnh. Lâu lâu mới có một hai con cá búng mình lên khỏi mặt nước kêu tanh tách. Tiếng côn trùng kêu rầm rì trong bãi cỏ không đủ phá tan sự thinh lặng và tâm trạng bối rối của hai người. Cái đêm hôm đó kết thúc như thế nào, cô Thơm cũng không còn nhớ rõ. Các giác quan của cô dường như tê dại đi. Cô chỉ còn nhớ là khi cô về nhà, đi ngủ, trong chiêm bao thấy toàn bông hoa đẹp và thơm ngát.

Buổi chiều cuối năm, cô Thơm không phải dệt chiếu với má. Ba cô cũng ngưng làm việc thường ngày của ông. Công việc của ba cô Thơm là trồng tỉa trong khu vườn rộng phía sau nhà để đem rau trái ra chợ bán. Thời gian còn lại, ông làm nghề tay trái là chế ra những con rối làm bằng giấy bồi, sơn đủ màu sặc sỡ đặng đem bán kiếm thêm đồng ra đồng vào. Các con rối của ba cô làm thiệt ngộ nghĩnh, có con hình dạng một cô gái bận áo kiểu như mấy tiểu thơ đài các ngày xưa, hai tay cột dây nối vào mấy cây đũa tre. Đem cột con rối lên mái hiên, khi gió thổi qua, mấy cây đũa chuyển động, khiến cô gái như đang uyển chuyển múa, ngó thiệt vui mắt. Ông còn làm mấy anh đánh võ hay múa kiếm, gió thổi vào làm mấy anh đi những đường quyền cũng ngộ không kém. Hay là những con thú khác nhau, con nào con nấy có những hình thù và chuyển động khác nhau, làm lũ trẻ mê tít, đòi cha mẹ mua để chơi. Ngày tư ngày tết, mấy con rối của ba cô Thơm bán chạy gấp mấy lần những ngày thường trong năm. Ba phải bắt thằng Báu làm phụ mới kịp. Thằng nhỏ ham chơi, bị bắt làm việc, ngồi giúp ba sơn sơn phết phết, cột dây này nọ mà mặt mày bí xị, thấy cũng tội nghiệp. Nhưng chiều ba mươi thì ba cũng nghỉ hết mọi chuyện, chuẩn bị bày biện bàn thờ để tối cúng giao thừa. Thằng Báu lại được dịp nhảy chân sáo ra với đám bạn cùng xóm, tha hồ mà đốt pháo lẻ.

Má cô cũng tíu tít dưới bếp, nấu nấu nướng nướng cho kịp các món ăn đặng ba cúng ông bà. Cô Thơm hụ hợ với má, má sai gì làm nấy. Bữa nay cô thấy lòng mình thiệt rộng rãi, phơi phới, má có bắt cô làm nhiều thứ quá hay cằn nhằn cô cái này cái nọ, cô cũng đều vui vẻ bỏ qua hết. Mà cô không vui sao được khi mối giao tình của cô với thầy Huy càng ngày càng sâu đậm. Đến nỗi nhiều khi cô phải bùi ngùi nhớ lại cả gần hai chục năm về trước, khi cô bắt đầu biết suy nghĩ và biết cảm xúc, giống như là cô chưa từng được sống, được nếm cái hương vị tuyệt diệu của đời sống là tình yêu mà cô mới vừa có được. Bây giờ cô mới thấy mình thiệt sự là sống, cô nghe từng hơi thở, từng cử chỉ của mình đều mang một ý nghĩa, chớ không như ngày trước. Y như câu nói diễu của một diễn viên trong một vở hài kịch trên truyền hình đã nói: “Sống mà không yêu cũng như chết mà còn biết thở!”.

Mỗi ngày mới của cô Thơm là một ngày của chờ đợi, của sự mãn nguyện vì tình yêu của mình được đền đáp ấm áp, đề huề. Cái hộp bánh bích-quy cũ của cô đã đầy nhóc những lá thơ tình của thầy Huy gởi cho cô. Chắc cô phải kiếm thêm một cái hộp khác quá. Hai bữa trước, thầy còn giúi vào tay cô một tấm thiệp xuân do chính tay thầy vẽ chớ không phải mua ngoài tiệm về. Thầy vẽ cũng hơi sến sủa, thiệp gì mà toàn là mấy trái tim đủ màu, to có nhỏ có. Nhưng cô không muốn chê, bởi vì cô thấy cái thiệp chứa hết tình cảm dạt dào mà thầy Huy dành cho cô. Nhứt là phía trong, thầy còn nắn nót ghi bằng nét chữ vừa rắn rỏi, vừa bay bướm như rồng bay phượng múa của thầy: “Tặng cô Thơm mùa xuân ý nghĩa nhất của đời tôi”. Cô đọc câu viết ngắn ngủi nhưng hàm súc đó của thầy mà lòng bồi hồi khôn tả. Cho tới giờ phút này, thầy Huy vẫn còn cô cô tôi tôi với cô Thơm, chớ chưa dám tiến tới chỗ anh anh em em. Nhưng cô Thơm không lấy đó làm điều. Chữ nghĩa, xưng hô chỉ là bề ngoài. Tình cảm bên trong mới thiệt là điều quý hoá.

Cỡ chín giờ tối, bàn thờ tổ tiên đã tươm tất. Ba cô đi ngủ sớm đặng còn dậy đúng nửa đêm rước ông bà về ăn Tết. Má cô cũng đã nấu xong đâu vô đó, chỉ chờ đem thức ăn lên cúng. Bà đã đi tắm rửa, chuẩn bị đón giao thừa. Cô Thơm cũng tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, vì đêm nay cô sắp làm một điều thiệt đặc biệt mà cô chưa bao giờ làm. Đó là bói Kiều cho biết tình duyên ra sao. Hồi cô còn học lớp đệ nhị, thầy Việt văn của cô có dạy cả lớp cách bói Kiều theo kiểu riêng của thầy. Thầy nói có nhiều cách bói Kiều, nhưng cách nào cũng rắc rối hay quá mê tín dị đoan, người bói phải khấn vái với những nhân vật trong truyện thiệt rườm rà, vô ích. Cách của thầy, theo như thầy lý luận, vừa giản dị, vừa khoa học, vừa kết hợp được cả đông tây kim cổ. Thầy không tin cách người ta cầm cuốn truyện Kiều mở ra đại trang nào là đọc trang nấy, vậy là không chính xác. Thầy giải thích là người bói Kiều kiểu đó có thể cố tình mở ra phần sách nào mà họ đoán có những câu thích hợp với sở cầu của họ, vậy thì làm sao mà linh ứng được. Thầy hướng dẫn cả lớp thử bói Kiều theo kiểu của thầy bằng cách lấy một bộ bài tây 52 lá (thầy nói đông tây hoà hợp là vậy!) để bói ra hai câu của cuốn truyện dài 3254 câu của cụ Tiên Điền Nguyễn Du.

Cách bói của thầy như vầy: thầy tính mấy lá bài có hình như già, đầm, bồi là con số không. Lá ách là số một, còn lại lá nào mấy nút đương nhiên là số đó. Người bói Kiều thầm xưng tên xưng tuổi, thành tâm khấn vái cụ Nguyễn Du, xin cụ linh thiêng ứng nghiệm với điều gì mình đang cầu xin để biết cụ dạy ra sao. Đoạn người đó xào bộ bài nhiều lần rồi rút ra bốn lá, đặt xuống theo thứ tự đặng coi phải tìm tới câu thơ nào trong sách. Nếu câu thơ đó là câu lục thời đọc tiếp câu bát phía dưới. Còn như câu đó là câu bát thời phải đọc câu lục phía trên. Gần hai chục năm trời rồi mà cô Thơm còn nhớ thiệt kỹ những lời thầy hướng dẫn. Lúc cô đang trịnh trọng cầm cuốn sách và bộ bài sửa soạn bói Kiều thì má cô từ dưới nhà bước lên. Má hỏi cô:

-          Giờ này mà con còn thức hả? Đi ngủ đi chớ, đặng chút nữa còn dậy đón giao thừa với ba má.

Từ chiều tới giờ, cô Thơm để ý thấy má cô khang khác, ít nói ít cười hơn mọi ngày. Trong bếp, khi cần gì má mới nói với cô mấy câu. Còn không thì má cứ lầm lì làm việc. Nhìn má buồn buồn, tuồng như có một tâm sự gì mà má không thổ lộ với ai được. Cô Thơm rụt rè nói:

-          Má à, con thấy bữa nay má không được vui. Má có sao không má?

Được lời như cởi tấm lòng, má cô Thơm thở ra một cái:

-          Con hỏi má mới nói. Không phải chỉ có bữa nay đâu con. Lâu nay má thiệt bực mình về một chuyện. Con thấy cô Tư ra sao? Cái cô mà thường đến nhà mình mua con rối của ba về bỏ mối đó!

Cô Thơm ra chiều suy nghĩ:

-          Cô Tư đó hả má? Thì cổ lâu lâu mới tới mua hàng của ba một lần. Con có thấy gì lạ đâu.

Má chắc lưỡi:

-          Tại con không để ý kỹ đó thôi. Mà má thấy hổm rày con cũng thay đổi nhiều lắm. Í chà, con với ông thầy Huy có cái gì không mà má hay thầy hai đứa cứ thậm tha thậm thụt nói chuyện hoài. Con gái con đứa phải giữ gìn ý tứ chớ không người ta cười đó nghen con!

Trong khi cô Thơm thoáng giựt mình, chưa biết nói sao thì má tiếp luôn, giọng vừa buồn vừa bực:

-          Cái cô Tư đó, cổ là gái goá chồng, còn trẻ. Mà ba con đã đứng tuổi, vợ con đàng hoàng. Vậy mà mỗi lần cổ tới mua hàng với ba, cứ mắt la mày liếc, nói giọng thì thiệt là nhõng nhẽo, không đứng đắn gì hết. Má hổng ưa được chút nào!

Cô Thơm phải rán lắm mới không bật ra cười:

-          Má à, má không có ghen với ba đó chớ? Con nghĩ là trời sanh cái điệu bộ với giọng nói của cô như vậy thôi chớ làm gì mà có chuyện như má nghĩ.

Má hứ một tiếng:

-          Con thiệt là thiếu kinh nghiệm sống. Má già rồi, con ruồi bay qua má còn biết ruồi đực hay ruồi cái, huống chi là cái thâm ý của cô Tư này. Má không có thèm ghen tuông gì hết, nhưng người ta phải tôn trọng má chớ. Má định qua Tết rồi, bữa nào cổ tới mua hàng, má sẽ xì nẹt cổ một trận.

Cô Thơm hoảng hồn:

-          Í chết, má đừng làm như vậy, kỳ lắm! Má làm vậy mất mặt cổ, mà cũng mất mặt ba luôn đó. Cổ là mối hàng xộp nhất của ba nữa.

Má hậm hực:

-          Xộp thì xộp chớ! Bộ hễ xộp là muốn làm gì thì làm sao?

Cô Thơm tiến tới vuốt lưng má mấy cái:

-          Thôi, con vuốt giận má. Chuyện tầm phào như vậy, hơi đâu má để ý cho hại sức khoẻ. Má nè, con đang sửa soạn bói Kiều đây. Má có muốn con bói cho má một quẻ luôn không?

Má nói giọng ráo hoảnh:

-          Bói với biếc cái gì? Bữa nay con thiệt là bày đặt. Mà má thấy người ta bói Kiều để biết chuyện tình duyên, nhứt là những người còn độc thân như con. Còn má già rồi, tình duyên nào mà cần hỏi han nữa chớ?

Cô Thơm cười khúc khích, ôm vai má:

-          Má nói vậy là còn thiếu sót. Truyện Kiều tuy có nhân vật chính là cô Thuý, chớ thiệt ra nó bao hàm hết mọi sự trên đời, đủ hỉ nộ ái ố, ai cũng bói được hết má à. Con bói cho má một quẻ cuối năm nghen?

Bà cụ dường như xiêu lòng, nói giọng xuôi xị:

-          Muốn bói thì phải làm sao?

Cô Thơm mừng rỡ nói:

-          Dễ lắm má à. Má chỉ cần nhắm mắt lại, xưng tên tuổi, rồi thành tâm khấn cụ Nguyễn Du đặng hỏi về một điều má muốn biết. Rồi con sẽ đưa bộ bài cho má rút lá bốn lá. Con sẽ tìm ra lời dạy của cụ Nguyễn Du cho má liền.

Má cô Thơm nghe lời, nhắm hai mắt lại, lâm râm khấn vái. Đoạn bà làm theo lời con, rút ra bốn lá bài trên tay cô Thơm. Cô xếp mấy lá bài xuống mặt bàn, trịnh trọng nói:

-          Má rút ra bốn lá đầm cơ, sáu bích, tám rô và già chuồn. Lá đầu tương đương với số không nên không tính. Như vậy là câu số 680. Để con mở sách ra coi cho má.

Cô Thơm mở sách ra tới trang có câu số 680. Đây là một câu sáu chữ, có nghĩa là cô phải đọc tiếp câu tám chữ bên dưới. Cô hắng giọng nói:

-          Má nghe kỹ nghen, con đọc hai câu này đây:

Cũng đừng tính quẩn lo quanh,

Tan nhà là một thiệt mình là hai.

            Bà cụ lim dim lim mắt lắng nghe. Hình như bà có thoáng giựt mình một cái. Nhưng bà giả ngộ như không có gì. Bà làm tỉnh đứng lên, nói với con gái :

-          Má không hiểu cụ Nguyễn Du muốn nói gì! Thôi, má đi ngủ đây. Con nhớ dậy lúc 12 giờ giúp má dọn đồ lên cúng ông bà đó.

Cô Thơm lén má tủm tỉm cười. Cô thầm phục cụ Nguyễn Du thiệt là linh thiêng. Má nói vậy chớ chắc má đã hiểu cụ dạy má điều gì. Bây giờ tới phiên cô, không biết cụ Tiên Điền sẽ dạy biểu cô ra sao đây. Cô bắt đầu nhắm mắt lại, khấn vái rì rầm, rồi rút ra bốn lá bài như má cô đã làm. Bốn lá đó là ách rô, năm cơ, bốn bích và con ba cơ. Vậy là câu số 1543. Cô hồi hộp mở sách ra, nhìn hai câu thơ trước mắt :

        Lại còn bưng bít giấu quanh,

        Làm chi những thói trẻ ranh nực cười.

Cô Thơm cũng giựt mình thon thót không kém má cô. Mèn ơi, điệu này là mình phải thú thật chuyện của mình và thầy Huy với ba má chớ còn bí mật quân sự cái nỗi gì nữa. Cô mà không nói thì má gần như cũng biết rồi, làm sao lấy vải thưa che mắt thánh cho đặng. Hồi trước, mỗi lần má phàn nàn với cô về đường chồng con của cô, cô thường ấm ức lắm, chỉ mong có ngày sẽ chứng tỏ cho má mình cũng không phải là gái già. Nhưng bây giờ, cơ hội đã tới, cô lại thấy thiệt là khó giãi bày. Hai mắt cô Thơm tỉnh rót, cô không thấy buồn ngủ chút nào hết. Cô nghĩ tới thầy Huy. Cô chắc giờ này thầy cũng không ngủ được và cũng đang nhớ tới cô. Cô nghĩ sao mà tình yêu nó tuyệt vời như vậy, hai tâm hồn ở xa nhau mà tưởng như thiệt gần nhau, cùng nghĩ tới nhau như có thần giao cách cảm. Cô mà có tài làm thơ, chắc lúc này cô sẽ viết nên mấy vần ca tụng sức mạnh diệu kỳ của tình yêu trai gái.

Cô Thơm ngồi một mình trong gian phòng thờ, miên man nghĩ hết ý này qua ý nọ, quên cả thời gian. Cô không để ý hai cây kim đồng hồ trên vách đang từ từ chập lại ở số mười hai. Rồi một loạt pháo nổ giòn giã vang lên khiến cô giựt mình nhớ lại giao thừa đã tới. Cái thôn nhỏ như đang cựa mình thức dậy, hân hoan chào đón giây phút thiêng liêng lúc năm cũ và năm mới giao hoà, cho một mùa xuân mới lại trở về với đất trời. Ba má cô lục tục thức dậy, sửa soạn cúng giao thừa. Cô Thơm lăng xăng phụ ba má trên nhà, dưới bếp. Thằng Báu ngủ say như chết, cô lay nó dậy đón giao thừa mà thằng nhỏ không nhúc nhích. Lúc ba má cô Thơm đứng trang nghiêm trước bàn thờ tổ tiên lung linh ánh bạch lạp, khói hương nghi ngút, cùng những mâm bông trái, những dĩa thức ăn tú ụ, bánh chưng, bánh tét, không thiếu món gì. Hai ông bà cầm hai cây nhang cháy đỏ để ngang mày, miệng thầm thì khấn vái. Cô cũng cầm nhang đứng phía sau. Cô bắt chước sách vở cùng những gì ba má dạy, kính cẩn xin ông bà tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, họ hàng hai bên, bà con chòm xóm, bạn bè gần xa và mọi người trong nhà lúc nào cũng được an vui, mạnh khoẻ. Cuối cùng, mà cũng không kém phần quan trọng, cô rưng rưng xin ông bà gia hộ cho mối tình mới chớm giữa thầy Huy với mình được bền vững, đặng một ngày không xa, ba má cô sẽ hỉ hả mời bà con cô bác tới dự ngày con gái vu quy trong tiếng pháo cưới tưng bừng không kém những tiếng pháo rộn rã đầu xuân này.

Trần C. Trí

Ý kiến bạn đọc
02/02/202004:58:22
Khách
Rất vui khi được đọc cảm tưởng và lời góp ý của độc giả Chinh. Xin cám ơn và kính chúc ông một mùa xuân như ý!
02/02/202003:06:27
Khách
Truyện ngắn mang lại cho người đọc cái phong vị của mùa Tết tuy chưa xưa những mãi không còn tìm thấy nữa, thời đó người trẻ còn e ấp, iphone ipad hãy còn chưa có trong trí tưởng tượng của nhân gian. Cái phong vị quyến rũ ấy có được nhờ tài dùng tiếng Việt và cách kể chuyện thong dong rất hiếm gặp trong văn chương bây giờ.
Nói về tiếng Việt, trong cái tâm đắc, cá nhân tôi là một người đọc vẫn có chỗ muốn nói lại, về câu này “Cô Thơm như một diễn viên nòng cốt đóng hoài một vai trong vở tuồng đã thay đào đổi kép”. Nói đến “vở tuồng” , với “đào” với “kép” có hợp với cái khung cảnh “có lúc không ai nói với nhau một lời” và những câu chuyện “vu vơ” của hai mẹ con?
Bỏ qua một hai câu nhỏ, đây là món quà Xuân ý vị. Cám ơn tác giả Trần C. Trí về một câu chuyện rất có duyên, đoạn bói Kiều rất thú vị.
30/01/202013:30:30
Khách
Cảm ơn chú đã trả lời. Chúc chú và gia đình một năm mới an lành hạnh phúc và sức khỏe.
28/01/202002:54:04
Khách
Chào cô. Cám ơn cô đã thích truyện này :=) Chuyện bói Kiều trong truyện là để mua vui cũng được một vài trống canh cô ạ. Còn chuyện tình duyên của mỗi người thì chỉ cần hỏi ý trái tim của mình và nhìn thẳng vào mắt của người đó là sẽ có câu trả lời ngay. Thân chúc cô năm mới được nhiều niềm vui và may mắn, kể cả trong chuyện tình duyên!
27/01/202018:56:23
Khách
Chú ơi chú viết bài này hay quá. Cách bói Kiều tình duyên như chú tả trong đó là thật a?
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 738,920
Tác giả lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ và đã nhận giải VVNM 2019. Bà tên thật là Ngô Phương Liên, học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79. Hiện là cư dân ở Lafayette, Louisiana, còn vài năm nữa sẽ ... ăn tiền già. Bút hiệu Pha Lê, theo chú giải vui của tác giả, không phải là trong veo như Pha Lê, mà là... Pha trò và Lê la! Sau đây là bài viết mới nhất của bà.
Bà cho biết tên thật Jeanne Bùi, sinh năm 1945. Từ trước 1975, dạy học ở Saigon. Sang Pháp từ 1982, đi học lại rồi làm việc cho Mairie de Paris (Tòa Thị Chính), hiện đã nghỉ hưu.
Tác giả tên thật Quách Ngọc Ánh, sinh năm 1954, hiện là cư dân Garden Grove, CA. Trước 75 học Sư phạm Sai gon, một thời dạy học tại miền Trung Việt Nam, định cư tại Hoa kỳ theo diện H.O. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của bà từ Tháng Sáu 2013 là một hồi ức xúc động về việc đi tìm người thân chết khi vượt biển. Sau đây thêm một bài viết mới.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam. Bà tên thật Nguyễn thị Ngọc Hạnh, trước 1975 đã là giáo sư trung học đệ nhị cấp tại Saigon. Cùng gia đình tới Mỹ từ 1979., hiện hưu trí tại miền Đông và vẫn tiếp tục viết. Sau đây, thêm một bài viết mới.
Tác giả tên thật Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1966. Trước khi đi vượt biên, là cô giáo tiểu học tại Việt Nam, qua trại tỵ nạn Thailand 4 năm và qua định cư tại Edmonton, Canada từ 1994 đến nay. Đây là bài mới nhất của tác giả.
Tác giả tên thật Đặng Thống Nhất, là một nhà giáo hồi hưu, sau nhiều năm dạy Song Ngữ và ESL tại Khu Học Chính Minneapolis và Việt Ngữ tại Đại Học Minnesota, hiện cư ngụtại Brooklyn Park, Minnesota. Với nhiều bài viết đặc biệt, ông đã tham dự và nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2017. Sau đây, thêm một bài viết mới.
Tác giả là một kỹ sư hồi hưu, đã sống 25 năm bên Pháp, hiện là cư dân Irvine, từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2013. Đây là bài viết mới của Ông.
Tác giả là nhà báo quen biết trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông dự Viết Về Nước Mỹ từ 2006, đã nhận Giải Danh Dự, thêm Giải Á Khôi, Vinh Danh Tác Giả VVNM 2016, và chính thức nhận giải Chung Kết Tác Giả Tác Phẩm 2018. Sau đây thêm một bài viết mới.
Tác giả đã nghỉ hưu sau gần 20 năm làm y tá tâm thần tại một bệnh viện tiểu bang Cali. Là cựu quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, sau 1975 đi tù Cộng sản 6 năm. Là cựu thuyền nhân được thuyền trưởng Nam Hàn tên Jeon Je Yong cứu vớt trên biển Đông năm 1985. Ông cũng là tác giả Hồi Ký "Tấm Lòng Biển"(2007) nói về thuyền trưởng Jeon bị trừng phạt sau khi vớt thuyền nhân. Tham gia "Viết về Nước Mỹ" với bài "Nhà Mobilehome và Di Dân Việt Nam" (Giải Danh Dự 2010) Tham gia công tác thiện nguyện cho thành phố Westminster, Nam Cali, từ 1994 đến nay.
Tác giả định cư tại Pháp nhưng thường lui tới với nước Mỹ, tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng Ba 2010. Họp mặt giải thưởng năm 2011, bà đã bay từ Paris sang California để nhận giải Vinh Danh Tác Giả -thường được gọi đùa là giải Á Hậu. Bài mới của Đoàn Thị viết nhân Ngày Lễ Mẹ 2019.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.