Hôm nay,  

À Ơi, Con Ngủ Cho Ngoan…

25/04/202500:00:00(Xem: 19565)
 Hình chính cho bài
  
Tác giả tên thật là Trần Hương Thủy hiện sống tại South Carolina. Tác giả là một cây bút được yêu mến và đọc nhiều trong giải thưởng VVNM. Bà vừa nhận giải Vinh Danh Tác Phẩm 2023. Hòa trong nỗi nhớ về 50 năm “Tháng Tư Buồn”, Biển Cát kể một câu chuyện buồn của thân phận con người trong chiến tranh dẫn tới cuộc đời xa xứ với nhiều đau thương, mất mát.
 
***
 
Mẹ còn có mỗi lời ru
Buồn như ngọn gió mùa thu thoảng về…  (BC)
 
Ngôi nhà của họ nằm trên một làng nhỏ ven biển, nơi quanh năm chỉ có nắng và gió. Cuộc sống họ thật đơn sơ, bình yên như tiếng sóng biển rì rào bên ghềnh đá lở; ngày hai lần anh Hai vác tấm lưới cũ trên vai giong thuyền ra khơi vào sớm tinh mơ, rồi trở về lúc chiều tà với tôm cá nhảy lách tách trong thúng. Chị Hai ở nhà loay hoay với mớ hải sản khô, canh chừng thời tiết mưa nắng bất thường của ông trời. Chỉ cần sơ sẩy một chút là bao nhiêu công cán của hai vợ chồng bỏ sông bỏ bể. Cái ăn của con người ở đây luôn khó khăn vì phải phụ thuộc vào thiên nhiên, mà thiên nhiên nơi vùng biển khô cằn này đa phần là khắc nghiệt.
 
Chiều chiều, chị lại theo những người phụ nữ ra bờ biển ngóng đợi chồng về. Đây là phút giây thư thả nhất trong ngày của những người đàn bà làng chài. Biển hào phóng cho họ đầy gió căng lồng ngực và lời ru êm ái, mà không giai  điệu nào có thể so sánh được. Câu chuyện giòn giã có thể dừng lại bất cứ lúc nào, khi đoàn ghe thuyền trở về cập bến. Những người đàn ông của họ đã về. 
 
Chị Hai luôn là người đứng dậy đầu tiên và cũng là người đầu tiên chạy xuống. Ống quần xắn cao quá gối, chị lội nước bươn bã đến bên chồng. Hai vợ chồng lụi hụi khiêng tôm cá lên bãi trong tiếng cười nói không dứt.
 
Rồi chị Hai mang bầu. Làm sao nói được niềm vui vô cùng của họ. Lần đầu tiên áp mặt vào bụng vợ, nghe tiếng con cựa quậy, anh Hai đã chảy nước mắt. Giọt nước mắt của người đàn ông dạn dày sương gió, nóng hổi, bồi hồi. Chín tháng mười ngày con ra đời, hai vợ chồng run rẩy nhận con từ tay cô đỡ, rồi chuyền tay nhau ấp ủ yêu thương. Chị gật đầu rưng rưng khi anh nói:
- Mình đặt tên con là Nhật Minh, nghe. Con là một ngày mới tinh khôi, sáng ngời. 
 
Họ đổi cách xưng hô bằng những từ “Cha, Mạ“. 
- Cha Minh ơi!
- Mạ Minh nè!
 
Chao ôi, mỗi lần nghe là ấm cả lòng. Xóm giềng cũng gọi họ là “Cha thằng Minh”, “Mạ thằng Minh“.
- Cha thằng Minh nè, mang ít hàu này về nấu cháo vợ ăn cho có sữa.
- Đàn bà mới sanh đẻ phải kiêng cử, đừng có dễ ngươi nghe mạ thằng Minh.
 
Minh lớn lên từng ngày trong tình làng nghĩa xóm của làng chài nghèo ven biển, trong hương cá khô hòa quyện muối mặn ướp đằm hơi thở, trong lời ru  êm đềm của mạ theo nhịp võng đong đưa:
 
“À ơi, con ngủ cho ngoan
 Để mạ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Có Bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng…”
 
Mạ ngồi vá tấm lưới rách lỗ chỗ, vừa đưa võng cho con. Tiếng mạ ru à ơi âm điệu miền Trung nghe thân thương mà cũng nghe buồn não nuột. Thỉnh thoảng, mạ dừng tay, trìu  mến nhìn con ngoan giấc ngủ. Này mái tóc tơ như mây phơ phất. Này chiếc mũi xinh xinh, chiếc miệng rộng tạc như cha. Mạ yêu tất cả những gì thuộc về con, cả tiếng cười dòn tan, tiếng khóc dỗi hờn. Vừa thoắt con ngoài tầm mắt là tim mạ đã hoảng loạn. Mạ cảm ơn cuộc đời đã cho cha mạ món quà quý giá, thiêng liêng vô cùng - đó là sự hiện diện của con.
 
Nắng bên ngoài đã lên cao. Mạ buông tấm lưới, tất tả ra sân đảo lại mớ cá khô trên giàn. Tay mạ thoăn thoắt lướt đều trên những giàn tre. Chỉ cần thêm một vài nắng nữa là có thể bán được lứa cá này và  sắm sửa ít đồ cho con. Mùa lạnh sắp tới rồi, con cần thêm áo ấm và tấm chăn dày. Nghĩ đến đó, lòng mạ bỗng vui chi lạ.
 
Cha không có thói quen tụ tập, đàn đúm, chén chú chén anh như những người đàn ông khác. Sau bữa ăn tối, cha thắp cây đèn dầu đặt trên bàn ăn. Trong lúc thằng Minh soạn tập vở, cha lụi hụi hun khói đuổi muỗi cho con. Muỗi vùng này con nào con nấy to đụi, chích mũi nào là sưng tấy mũi đó. Dường như chưa yên tâm, thỉnh thoảng cha còn phe phẩy chiếc quạt trên tay quanh người con. Mạ ngồi cạnh đó, mở chiếc hộp thiếc ra, vuốt thẳng từng tờ tiền giấy nồng mùi tôm cá, đếm tới đếm lui rồi cất lại vào góc tủ. Số tiền này hai vợ chồng bắt đầu dành dụm từ ngày mạ mang thai, dự định cho con chút vốn liếng sau này.
 
Chợt mạ nhìn cha, hỏi:
- Ủa, sao mấy bữa nay không thấy cha Minh hút thuốc nữa. Cha mệt à?
 
Cha lắc đầu:
- Thuốc rê thì cũng là tiền. Bỏ đi, ky cóp cho con có ích hơn.
 
Chợt có chiếc bóng lấp ló ngoài cửa:
- Minh ơi, Minh.
 
Cha rướn người nhìn ra:
 - Ai đó, bây?
- Dạ, thằng Ân đó cha.
 
Minh đáp lời cha rồi quay ra cửa:
- Ân, vô đi mậy.
 
Chỉ chờ thế, thằng Ân chạy tót vào nhà, cúi đầu chào hai người lớn, và nói:
- Nhà con hết dầu. Cô chú cho con qua đây học ké với thằng Minh nghe.
 
Cha dễ dãi:
- Ừ, con ngồi học bài cùng Minh đi.
 
Mạ xuống bếp bưng rổ khoai lên, mời:
- Cha Minh với hai đứa nhỏ ăn đi, mạ vừa luộc chín tới đó.
 
Nhìn thằng Ân nhồm nhoàm củ khoai, mạ thương cảm quá. Nhà mình đã nghèo, nhà nó còn tội hơn. Mạ nó bệnh rề rề quanh năm, một mình cha nó bươn chải không đủ sống, cảnh nhà thiếu trước hụt sau với trăm gánh lo.
 
Minh sà xuống bên mạ:
- Mạ ơi, bài hò của mạ có bà Triệu cỡi voi đánh cồng trên núi là sao vậy mạ?
- À, bà Triệu tập trận để đánh đuổi giặc Ngô xâm lược nước ta đó con.
- Mai mốt con lớn, con sẽ cỡi voi ra trận mạ nghe.
 
Cả nhà bật cười. Thằng Ân cười lớn phun cả miếng khoai đang ăn:
- Bây giờ ai mà cỡi voi nữa, ngố.
 
Cha xoa đầu Minh:
- Con mau lớn rồi học làm thầy giáo, về đây dạy cho bà con mình chữ nghĩa nghen. Đời cha mạ dốt nát, chỉ mong con thành đạt, không phải tất bật kiếm cái ăn khổ cực.
 
Mạ cười mà mắt long lanh:
- Lúc đó mọi người sẽ gọi cha mạ là cha mạ ông giáo Minh. Chỉ nghĩ thôi, đã nghe mát cả ruột gan.
 
Minh dạ thật ngoan:
- Dạ, con sẽ học thật giỏi để làm thầy giáo nghe cha mạ.
 
Thằng Ân cũng chen vào:
- Con nữa. Con cũng học làm thầy giáo chung với thằng Minh nữa.
 
Niềm vui của mạ bây giờ là chiều muộn cùng cha ra ngõ đợi con về. Mắt mạ sáng rực khi thấy thấp thoáng bóng con  từ xa xa. Trên chiếc xe đạp cũ cha mạ chắt bóp mua cho từ lúc con vào trung học trên thị xã, con và thằng Ân chở nhau ngày hai buổi đi về. Khoảng đường hơn hai mươi cây số mỗi ngày tụi con gò lưng đạp, từ lúc còn chống chân chưa tới, đến lúc chân tay dài lòng khòng. Hôm nào có bảng điểm hoặc bài làm cao điểm, con đã vẫy tờ giấy từ xa như nôn nóng muốn khoe với cha mạ thành quả của mình. Cha mạ cũng vẫy tay cao, hồi hộp chờ con phóng xe như bay trên con dốc gập ghềnh.
 
Những hôm nghỉ học, con theo cha ra biển bắt cá. Chiều lại, mạ ra bãi ngóng thuyền về. Nhiều lần, mạ lặng người khi nhìn bóng con bên cha. Hai chiếc bóng cao to, vững chải. Hai người đàn ông yêu thương của cuộc đời mạ.
 
*
 
Ân rủ Minh lên dốc đá. Từ nơi này, hai đứa có thể nhìn bao quát khắp ngôi làng. Những chiếc thuyền chài cũ nát, những thuyền thúng xộc xệch nằm phơi trên bãi vắng. Chỉ toàn là cát, đến cỏ cũng xác xơ, có mỗi rau muống biển và phi lao tràn lan khắp chốn. Nhưng thật lạ lùng, màu xanh của biển vẫn lóng lánh trải đến tận chân trời, sóng vẫn nhấp nhô từng lượn vờn quanh bờ đá , đẹp tuyệt vời trong hoang sơ và cằn cỗi.
 
Những lúc buồn hai đứa vẫn thường  ra đây, ngồi nhìn biển, thở hít không khí nồng nàn mùi cá khô, mùi muối mặn, nói vài ba câu chuyện tếu táo là trôi hết muộn phiền.
 
Minh yên lặng, chờ thằng bạn. Khác với mọi lần, Ân lầm lì cả buổi. Minh nóng lòng, giục mấy lần, nó mới nói:
- Thi tốt nghiệp xong, tau sẽ nghỉ học.
 
Minh bàng hoàng:
- Mày không thi đại học à?
- Không, mày biết hoàn cảnh nhà tau rồi đó.
 
Ân nhìn xa xăm:
- Mạ tau thì yếu. Cha tau một mình làm sao lo cho cả mạ và tau. Nếu tau vào đại học, sẽ trở thành gánh nặng của gia đình.
 
Một khoảng lặng giữa hai đứa bạn thân. Minh muốn an ủi thằng Ân, nhưng biết nói gì bây giờ. Vì mở miệng ra, chạm vào đâu cũng va phải vết đau.
 
Hoàng hôn mùa này sụp xuống thật nhanh. Bóng  tối giúp người ta dễ che giấu tâm trạng hơn. Ân lên tiếng phá tan sự im lặng:
 
- Có tau phụ thêm, chắc hai cha con tau sẽ kiếm được thêm ít tiền, đủ lo thuốc men cho mạ tau, rồi dành dụm mua chiếc thuyền mới. Chừng mày về, chắc tau đã sắm được thuyền mới rồi. Mình sẽ ra khơi bắt tôm cá đãi mày ăn đã đời luôn.
 
Minh ậm ừ thả cái nhìn vào bóng tối. Ân quay sang vỗ vai Minh:
 
- Mày nữa. Ráng ôn bài vở, rồi ráng đậu vào Đại học Sư phạm cho cha mạ mày vui. Còn thày cô nữa đó. Tau đã dang dở việc học rồi, thì mày phải cố, đừng phụ lòng thầy cô mình nghe. Đậu rồi, lên thành phố học, rảnh rỗi nhớ biên thơ cho tau nghe. Chụp hình cho tau coi với. Chắc thành phố đẹp lắm.
 
Những câu nói rời rạc, đứt quãng từng khúc, tưởng chừng như thằng Ân cứ phải dừng lại để nuốt tiếng thở dài. Lần đầu tiên câu chuyện của hai đứa càng lúc càng thêm buồn.
 
Vậy đó, mà thằng Ân chết. Nó chết một cách oan ức, tức tưởi. Một phát súng phá tan lồng ngực nó khi đang đi câu tôm buổi tối. Máu từ thân thể nó thấm vào cát ẩm, hòa tan vào sóng nước mênh mông.
 
Cũng trong đêm, những tờ truyền đơn dán cờ xanh đỏ sao vàng với dòng chữ in “Mặt trận giải phóng đã có mặt nơi đây, sát cánh cùng đồng bào chiến đấu giành tự do, độc lập”, tung rải rác khắp làng chài.
 
Lúc Minh vừa bước vào, mạ Ân đang phủ phục bên quan tài. Minh quỳ cạnh bà. Bà ngước lên níu tay Minh van vỉ:
 
- Con nhìn kỹ giùm bác đi. Không phải là thằng Ân đâu, không phải nó đâu. Nó đang ở bên nhà con học bài mà. Đúng không con?
 
Minh cũng muốn gào lên thật to:
- Ừ. Không phải là mày đâu. Ân ơi, không phải là mày đâu mà.
 
Gió lùa thông thốc từ biển vào sân, ùa vào nhà, rít lên từng tiếng buốt lòng luôn qua những hàng phi lao nghiêng ngã.
 
Nghẹn ngào, những tiếng khóc uất nghẹn vang lên trong tang tóc.
 
*
 
Thầy đã gặp Minh sau giờ học, sau khi nhận lại tờ đơn thi đại học trống những thông tin. Thầy không nói một lời nào, chỉ nhìn Mình như chờ đợi. Giá mà thầy la hét, chắc Minh sẽ thấy nhẹ lòng hơn. Thầy đã bỏ bao nhiêu công sức, đặt bao nhiêu kỳ vọng vào học trò mình. Vậy mà, Minh đã phụ công thầy.
 
Mãi rồi Mình mới ngước đôi mắt đỏ au lên:
- Em xin lỗi thầy.
- Thầy chỉ muốn hỏi vì sao em lại quyết định như thế này. Cha mạ, thầy cô và bạn bè đã kỳ vọng vào em biết bao nhiêu.
 
Giọng thầy thất vọng lẫn bất lực. Có thể thầy nghĩ lứa tuổi này, học sinh của thầy thường hay ương bướng.
 
Minh nghẹn lời. Không, thầy ơi, em muốn vào đại học lắm. Đó là kỳ vọng của những người thân yêu và cũng là ước mong suốt bao năm em miệt mài đèn sách. Nhưng mà, chiến tranh đã đến làng quê của mình rồi. Thằng bạn thân của em đã chết. Nhiều người trong làng và những làng bên cũng chết vì lạc đạn, dẫm mìn. Những cái chết oan ức đó rồi sẽ còn tiếp diễn.
 
Câu hò mạ ru từ ngày nằm võng, em vẫn thuộc nằm lòng. Bây giờ em dừng lại việc học, nhưng hết chiến tranh rồi em sẽ lại về và tiếp tục ước mơ của mình nghe thầy.
Hai thầy trò nói chuyện thật lâu. Khi chia tay, thầy xiết chặt vai Minh. Ánh mắt thầy cũng cũng đỏ hoe. Học trò của thầy trưởng thành, lý tưởng hơn thầy nghĩ. Thầy hạnh phúc vì cuộc đời mình đã không phí công chèo chống những chuyến đò.
 
Thật khó khăn để Minh nói cho cha mạ nghe quyết định của mình. Mạ thở dài:
- Chừng nào cho hết chiến tranh, con ơi.
Tưởng tượng con sẽ xông ra giữa làn tên mũi đạn, nước mắt mạ đã chảy dài, ruột gan mạ đã xoắn  từng cơn.
 
Cha chỉ ngồi yên trầm ngâm. Cha biết tính tình con giống cha ở chỗ rất kiên định. Hẳn con cũng đã suy nghĩ rất kỹ rồi. Cha không muốn dùng tình cảm hay quyền lực để ngăn cản quyết định của con, vì như thế sẽ làm con thêm khó xử.
 
Bàn tay thô ráp của cha vỗ nhè nhẹ lên mái tóc con, cử chỉ yêu thương cha vẫn thường làm thay cho lời nói. Lần đầu tiên cha cảm nhận được con đã thật sự trưởng thành.
 
Trong một thoáng, cha nghe lòng mình yếu đuối và mâu thuẫn, khi muốn thời gian quay trở lại, để con cứ hoài bé dại, cứ lũn cũn chạy theo cha, cứ mãi ở trong vòng tay cha bao bọc, chở che.
 
Những ngày cuối cùng còn ở nhà, Minh làm việc không ngơi tay.Minh  chặt cũi, bó lại. Kéo gàu đổ nước đầy hàng lu bên hiên. Giậm lại mái tranh… Mỗi khi ngẩng nhìn lên, Minh  nghe tim mình thắt lại khi thấy mạ thẩn thờ kéo vạt áo chậm nước mắt, cha ngồi rít điếu thuốc rê dõi mắt buồn hiu. Lâu lắm rồi Minh mới thấy cha cầm lại điếu thuốc. Chắc hẳn cha đau khổ lắm.
 
*
 
Minh rời đi vào buổi sớm tinh sương. Hôm đó cha không ra khơi dù trời rất trong, biển rất yên bình. Bàn tay cha mạ núm níu không nỡ buông rời con. Dù bước thật nhanh không một lần nhìn lại, nhưng Minh biết sau lưng, cha mạ đang đứng lặng như hóa đá hút mắt nhìn theo. Biển tĩnh lặng sao lòng Minh dấy lên từng cơn sóng bổ ầm ào tựa như những ngày đầy giông bão.
 
Minh chọn binh chủng Thủy Quân Lục Chiến vì đây là đơn vị tác chiến đổ bộ từ đường thủy. Biển cả đã nuôi anh khôn lớn, hòa tan vào dòng máu và hơi thở của anh. Bây giờ đã đến lúc anh mang tuổi trẻ mình trả món nợ ân tình ấy.
 
Hết chiến tranh con sẽ trở về nhà mình với cha mạ nghe.
 
Thư nào Mình cũng ghi câu đó, như một lời hứa chắc chắn cho tương lai. Cha đọc tới đọc lui những bức thư của con cho mạ nghe dưới ngọn đèn dầu tù mù mỗi đêm, bên chỗ con ngồi học ngày xưa.
 
Rổ khoai thỉnh thoảng mạ luộc lên để chỏng chơ từ lúc khói còn nghi ngút đến lúc lạnh tanh. Hết cha, đến mạ, bốc khoai lên tay rồi thẩn thờ đặt xuống. Những bữa cơm cha mạ chống đũa nhớ tiếng nói quen thuộc của con. Sao bây giờ ngôi nhà bốn bề quạnh vắng.
 
Mạ thường giật mình với những giấc mơ hoảng loạn. Tỉnh dậy, mạ sờ thấy chỗ bên cạnh mình lạnh tanh. Cha ngồi ở bậc cửa,  rít từng đốm thuốc lập lòe tự lúc nào. Có tiếng pháo vang ầm ì trong đêm vắng, dập dồn gõ vào tim mạ những nhịp âu lo.
 
*
 
Chiến tranh càng lúc càng khốc liệt. Tin tức của con thưa dần.
 
Rồi một ngày tang thương bao trùm ngôi nhà nhỏ của gia đình mình. Con trở về trong poncho trùm kín, trong chiếc quan tài phủ lá cờ tổ quốc. Tiểu đội của con đã tử thủ cho đến giây phút cuối cùng.
 
Trên mảnh đất cao gần nhà, cha mạ ngậm ngùi làm người đầu bạc lập ngôi mộ cho kẻ đầu xanh. Không biết bao nhiêu lần mạ ngồi đó ôm di ảnh con khóc ngất. Còn cha chết lặng trong đau đớn nhìn trân trân vào nấm mồ chưa xanh cỏ. Sinh ly tử biệt. Nỗi đau cứ từng ngày cứa vào tim cha mạ những vết cắt xót xa.
 
Chiến tranh rồi chấm dứt. Nhưng không có nghĩa là cuộc sống trở lại sự yên bình vốn có của nó từ xưa. Làng quê đã thay đổi nhiều lắm. Thêm nhiều nấm mộ của những người già, của những người chết vì bom đạn chiến tranh. Có những người mới đến ngụ cư và những người cũ bỏ làng vượt biển. Cuộc sống khó khăn, xô bồ hơn.
 
Cha vẫn vác lưới ra khơi. Mạ lầm lũi ở nhà với mớ cá khô trên giàn lủng lẳng. Tiếng sóng vẫn rì rào ngày đêm bên ghềnh đá. Nhưng tiếng cười của con đã bằng bặt từ lâu.
 
Năm tháng tiếp tục trôi qua. Dù biết con đã mất, nhưng từ sâu thẳm nơi đáy lòng, cha mạ vẫn không thể chấp nhận được sự thật tàn nhẫn này. Nhìn đâu mạ cũng thấy thấp thoáng dáng con. Con thả gàu vào giếng múc nước đổ đầy lu cho mạ. Con đạp xe thả dốc về nhà. Con ngồi nơi bàn học bài… Nếu không có chiến tranh, giờ này  chắc con đã ra trường, trở về đây làm thầy giáo dạy dám con nít làng mình…
 
Cha mạ núm níu không nỡ rời xa làng vì nơi này có một phần máu thịt của con. Cho đến một ngày, cha nắm lấy bàn tay mạ, nghẹn ngào:
- Chuyến cuối rồi, vợ chồng mình đi thôi mạ Minh.
- Mình đi rồi bỏ mộ con ở lại lấy ai nhang khói. Mạ rưng rưng.
 
Cha nói trong nước mắt:
- Con mất rồi thì mình đi đâu, hồn con theo đó.
 
Lệ cha đã rơi lả chả khi thắp hương khấn con, rồi cha lấy một nắm đất nơi mộ, gói lại mang theo người.
 
Tối đó, cha mạ cùng những người làng cũ còn lại lên tàu. Đêm cuối tháng trời mù mù,  mưa rơi lất phất. Mạ lả người trên vai cha như xác không hồn. Cha ghìm từng cơn nấc nghẹn chực trào ngược ra khỏi lồng ngực.
 
Chiếc tàu lặng lẽ ra khơi. Ngôi làng lùi xa, lùi xa và chìm trong cơn mưa tầm tã.
 
*
 
Bao nhiêu năm đã trôi qua rồi, mạ cũng không nhớ được. Thời gian không làm nguôi ngoai nỗi đau thương trong lòng mạ, mà chỉ nhuộm màu sương trên mái tóc xác xơ. Đôi khi lẩn thẩn mạ ngoái ra sau, dớn dác gọi Minh ơi! rồi ngẩn ngơ bật khóc.
 
Chiều nay, như một thói quen từ lúc nào, mạ lại ra ngồi bên thềm nhà cho chút nắng hiếm hoi cuối mùa hong trái tim khô quắt. Ánh mắt mạ dõi phía ánh dương đang lịm về cuối chân trời, nơi chốn xa xôi mà mạ tin rằng đó là hướng quê nhà. Làng chài nghèo ven biển nằm nơi ấy. Mộ con cũng nằm nơi ấy, quạnh quẽ không chút khói nhang.
 
Qua làn mây mù của đôi mắt già hấp háy, mạ chỉ thấy một màn tối chườm xuống, bao trùm dần khoảng sân chung quanh mạ. Trong quên nhớ mênh mang, vô thức mạ đưa tay như đẩy đưa nhịp võng. Ngủ đi, ngủ đi con. Ừ, để mạ ru con nhé. 
 
“À ơi, con ngủ cho ngoan
 Để mạ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Có Bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng…”
 
Cuộc chiến tranh ngày ấy đã trôi qua lâu lắm rồi. Bây giờ, có mấy ai còn nhớ đến. Chỉ còn lời thầm thì của gió, thoảng trong lời ru của mạ mãi mãi không bao giờ phai nhạt theo năm tháng.
 
 
Biển Cát
Tháng 4-2025
 

Ý kiến bạn đọc
10/08/202500:52:14
Khách
Xin cảm ơn các bạn PhaoNg và Mmi- luôn ủng hộ tinh thần cho BC.
BC xin được chia sẻ cảm xúc với bạn V Hung và thật sự tin rằng, ở một nơi chốn bình yên nào đó, cha mạ bạn hẳn đã hạnh phúc , tự hào về người con yêu dấu của họ.
Thân ái.
01/05/202519:12:55
Khách
Tôi đã khóc khi đọc bài này.
Tôi là người sinh ra và lớn lên ở một làng chài lưới. Tôi cũng nằm trong hoàn cảnh của Minh .
Sau chiến tranh kết thúc tôi đã đến bến bờ tự do và thực hiện giấc mơ mà mạ tôi thường nhắc nhở mỗi khi ngồi bên nấm cơm." Con ráng học"
Tôi đã cố gắng và đạt được giấc mơ thì Ba mẹ đã ở trên thế giới bình yên. Cám ơn tác giả.

"
28/04/202520:07:42
Khách
Chúc tác giả nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc vượt qua nỗi bị thương của quá khứ.
26/04/202515:23:36
Khách
Chiến tranh VN thật đau thuơng nhưng cái nạn lớn cho dân miền Nam là bị kẻ nghèo đói ngu dốt hơn cai trị. Nếu VN hôm nay nhờ "giảỉ phóng khỏi kiềm kẹp đế quốc" vuợt xa Hàn quốc, Ðài Loan, thì ngày nay ai cũng ủng hộ cộng sản giải phóng. Ðằng này sau khi giải phóng thì VN nghèo hơn, cả nuớc bị đói. TBT Tô Lâm có nhận xét là hồi 1960, dân Singapore mơ uớc đuợc đi chưã bệnh ở Bệnh viện Chợ Rẫy VNCH, mà nay hơn 50 năm sau ngày thống nhất dân VN mơ uớc đuợc chữa bệnh tại Singpore và đuợc sống ở Singapore. Khi bộ đội Duơng Thu Huơng đến tiếp thu Sài gòn, cô mới thấy là CSVN sai lầm vì Sài gòn văn minh giàu có vuợt xa Hà Nội. Những nguời miền Nam sau đó ra miền Bắc thăm như Phan Xuân Sinh, và tù cải tạo bị đưa ra Bắc ngỡ ngàng khi thấy kẻ chiến thắng quá nghèo khổ. Ðây là cái bất hạnh của miền Nam khi bị kẻ ngu dốt nghèo khó cai trị 50 năm qua. Tiếc răng giới trí thức miền Nam đa số cũng ngu dốt nên họ không biết bộ mặt thật của chế độ CS mà ủng hộ và giúp đỡ kẻ ngu dốt cai trị miền Nam. Trong chiến tranh VN, nguời chết trong cuộc chiến may mắn đuợc giải thoát trong khi nguời sống sót là kẻ xấu số bất hạnh sống kiếp lưu đày trong cái nhà tù lớn. Thay vì chết vinh quang trên chiến truờng như Minh, kẻ sống sót đi cải tại bị bỏ đói 17 năm, có nguời bị vệ binh đánh đập cho đến chết không có nấm mồ. Các nuớc Ðông Âu nhờ dân trí cao nên khi Liên sô tan rã năm 1991 dân chúng đòi quân đội buông súng tại Balan, Ðông Ðức, Hung, Tiệp, Nam Tư Romania, v v... thì quân đội buông súng để dân giải tán chánh phủ CS. Dân trí VN thấp nên khi Liên sô tan rã năm 1991 dân VN không đứng lên yêu cầu bộ đội VN buông súng và giải tán chánh phủ CS của Lê Ðức Anh, Tôn Ðức Thắng, Ðỗ Muời.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 499,236
Mùa đông của nước Mỹ bắt đầu từ khi nào? Vào tháng mấy? Theo trang Fanpage của nước Mỹ, thì “Mùa đông ở nước Mỹ bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến hết tháng Hai năm sau. Một số thành phố như New York, Washington.D.C, Boston... tuyết rơi nhiều, lạnh giá...”, nhưng theo nhiều người Việt sống lâu năm ở Mỹ, nhất là những người cao niên, không ưa cái lạnh của mùa đông thì cứ sau lễ Thanksgiving và sau những ngày mua sắm Black Friday, thì đã nghe cái lạnh của mùa đông tràn về. Thậm chí có nhiều nơi đã bắt đầu cái rét... tái tê, và trong nhà đã cần phải bật máy sưởi, người thì cần phải mặc thêm nhiều lớp áo ấm, khăn choàng cổ, cùng với mũ nón, trùm kín đầu! Và cứ thế cái lạnh kéo theo lê thê qua mãi đến, tháng 3, thậm chí đến đầu tháng 4 mới chấm dứt.
Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Theo học bậc tiểu học và trung học tại Đà Nẵng, đại học tại Sài Gòn. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, bang Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Đây là lần đầu tiên tác giả tham dự chương trình VVNM. Bài viết ghi lại một truyện ngắn đã đăng trên tạp chí Văn từ nhiều năm trước vẫn in đậm trong ký ức của ông.
Tôi đến thành phố Grapevine thuộc hạt Tarrant ở Bắc Texas vào ngày 24 tháng 11, ngày của sự kiện Carol of Lights (Lễ khai mạc mùa Giáng Sinh) để tận hưởng không khí mùa Giáng Sinh năm nay. Được các nhà lập pháp bang Texas công nhận là thủ đô Giáng sinh của bang Texas (Christmas Capital of Texas) vào năm 2009, thành phố Grapevine mỗi năm thu hút hàng triệu du khách đến thăm vào thời điểm này hàng năm. Trong vòng 40 ngày kể từ Lễ Tạ Ơn đến hết mùa Giáng Sinh, đã có hơn 1,400 sự kiện Giáng Sinh diễn ra ở thành phố này. Grapevine thật xứng đáng được phong tặng danh hiệu Thủ đô Giáng Sinh của bang Texas.
Chỉ một đôi năm trước đây thôi, California nơi tôi ở hằng ngày nhất là vào cuối tuần, đi ngang qua những tiệm như Home Depot hay Little Orchard Hardware, bạn sẽ thấy rất đông những người đàn ông đứng rải rác gần đó để chờ được thuê đi làm những việc như: chặt cây, làm vườn, khuân vác, dọn nhà, …và những công việc nặng nhọc khác. Gần như tất cả đều là người Mễ lén nhập cư vào Mỹ nên không đủ giấy tờ để đi làm công sở như mọi người khác mà phải chịu thiệt thòi nhận những công việc lao động vất vả này. Chính phủ Mỹ biết, nhưng làm ngơ để cho họ có cơ hội làm việc lương thiện sinh sống, miễn là đừng làm gì vi phạm luật pháp là được.
Buổi sáng Christmas Eve năm ấy bình yên đến vô cùng. Lò sưởi kêu tí tách như ai gõ nhịp vui, hơi nóng lan ra làm cả phòng khách ấm hẳn lên. Cây thông đặt bên cửa sổ sáng rực bởi dây kim tuyến và những bóng đèn nhỏ đủ màu. Ánh sáng nhấp nháy phản chiếu lên tường, lung linh như mảnh ký ức thắp sáng từ những yêu thương. Trong bếp, vợ Nam đang lúi húi lấy khay bánh mới nướng ra khỏi lò. Chút bột trắng còn dính trên tạp dề, nhoẻn miệng cười- nụ cười xoá tan đi bao mệt mỏi. Mùi bơ, mùi quế, mùi turkey quay hòa vào nhau, thơm đến mức làm lòng người ấm lại. Căn nhà rộn rã tiếng cười, tiếng của hai vợ chồng, tiếng của đứa con trai năm tuổi đang chạy lon ton giữa phòng khách, chân nhỏ khua lên nền gỗ lách cách, suýt vấp vào hộp Lego mới, làm mẹ hốt hoảng: -Tin, coi chừng té đó con! - Ba ơi, ba ơi!! Thằng bé ôm cái ba-lô nhỏ chạy tới. Hai má đỏ bừng, đôi chân lon ton muốn vấp vào chính mình. Nó dừng trước mặt Nam, thở gấp, rồi lục lọi trong ba-lô như đang tìm kho báu....
Hôm nay, trong lúc dọn dẹp các hồ sơ, giấy tờ và các thư từ cũ để chào đón năm mới, tình cờ, tôi bắt gặp một tấm thiệp Giáng Sinh đã phai màu theo thời gian của một người bạn cùng khóa 7/68 KQ viết gửi chúc mừng tôi cách đây 33 năm, khi gia đình tôi vừa đến San José. Thiệp chúc mừng Giáng Sinh và Năm Mới của bạn Nguyễn Xong Kiệt. Trong quan hệ bạn bè cùng Khóa, tôi không chơi thân với Kiệt. Thời gian thụ huấn giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, và giai đoạn hai ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, thỉnh thoảng gặp nhau, chỉ bắt tay chào hỏi xã giao.
Rời quê hương theo diện đoàn tụ gia đình, tôi đến Mỹ vào một ngày cuối năm 1998, đúng vào mùa Giáng Sinh. Lúc ấy, tôi gần tròn năm mươi tuổi. Chuyến bay đưa vợ chồng tôi và ba đứa con nhỏ đến thành phố Tulsa, một vùng đất nhỏ yên tĩnh giữa miền Trung nước Mỹ, nơi mùa đông tuyết phủ trắng trời. Ngày đầu tiên đặt chân đến nơi đây, tôi vẫn nhớ rõ, trên con đường nhỏ về thị trấn Broken Arrow-gió lạnh thổi táp vào mặt, hơi thở hóa thành khói trắng, đường phố vắng tanh, chỉ có ánh đèn Noel le lói sau các khung cửa sổ. Cả gia đình chúng tôi quây quần trong căn nhà nhỏ của người em gái, vừa mừng vừa lo. Đó là mùa Giáng Sinh đầu tiên trên đất Mỹ, nhưng trong lòng mỗi người đều chùng xuống, buồn và nhớ nhà vô hạn.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Không khí sáng hôm nay thật yên lành, bầu trời xanh lơ trong vắt như được kéo lên cao hơn. Xa xa, một dải mây trắng như chiếc khăn “voan’ trôi lặng lờ tạo cho cảnh vật êm đềm nơi đây thêm thanh bình! Trong cái không gian im ắng của những ngày giữa tháng Bảy ở thành phố Dayton, tiểu bang Ohio này thì tại phi trường DAY (Dayton-Ohio) vẫn vắng lặng. Không biết tự lúc nào, nó đã trở nên thưa thớt vì đa số các chuyến bay đều đổ dồn về phi trường lớn CVG (Cincinnati/ Northern Kentucky International Airport) ở cách đây hơn tiếng đồng hồ lái xe khiến cho đa số hành khách đều chọn đến và đi từ nơi đó làm cho giá vé ở phi trường nhỏ này thêm mắc mỏ. Tuy nhiên vì thằng con chúng tôi được đơn vị AFROTC (The Air Force of the Reverse Officer Training Corps) của nó chọn mua cho vé ở phi trường gần nhà nhất nên nó đi tại đây và hôm nay là ngày nó khởi hành tới căn cứ không quân Maxwell Air Force Base tại Alabama để được thụ huấn khoảng ba tuần.
Giờ này tôi mới tỉnh táo sống cho mình với dư âm của buổi phát giải “Viết Về Nước Mỹ” do Việt Báo tổ chức vào ngày 30 tháng 11 năm 2025 tuần trước. Sau ngày đó, buổi sáng ngồi xe đò Hoàng trên đường trở về, tôi mở phone lướt vội xem có thông báo gì quan trọng từ các hội văn thơ. Mạ ơi! phó chủ nhiệm của trang Văn Học Cỏ Thơm (VHCT) ghi thẳng tên tôi to lớn, yêu cầu họa lại bài thơ Đường Luật của chị Phương Hoa. Tiếp theo là thư của chủ nhiệm VHCT hối thúc nạp bài cho kịp ra flipbook tháng 12. Kế tiếp các em Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa họp trên zoom chuẩn bị tổ chức buổi thắp nến nguyện cầu cho nhân quyền VN. Các em yêu cầu tôi làm bài thơ về các nhân vật đấu tranh đang bị giam cầm trong nước, được giải nhân quyền năm nay. Thật tình mà nói tôi nay đã già, chồng bệnh, lái xe tệ, không muốn tham gia việc gì nữa, nhưng em Huy trưởng nhóm của HDBCL nói một câu chạm vào tim tôi “Cô ơi, chúng cháu rất cần ba thế hệ một tấm lòng ...”. Em là kỹ sư từ lâu sinh hoạt rất hăng say ngoài Cộng Đồng...
Nhạc sĩ Cung Tiến