Những Người Con Trai Của San Jose

27/05/201400:00:00(Xem: 8875)

Tác giả: Khôi An
Bài số 4223-14-29633vb3052714

Bài viết đặc biệt cho Mùa lễ Chiến Sĩ Trận Vong năm nay. Khôi An, một kỹ sư điện tử, cư dân San Jose, đã nhận Giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013. và là một trong những tác giả đạt số lượng người đọc nhiều nhất trên Việt Báo online.

* * *

Sáng ngày 30 tháng Ba, 2013, trời âm u, có mưa phùn rất nhẹ.

Những giọt mưa rơi trên tấm đá hoa cương bóng loáng. Đọng lại. Long lanh. Rồi nhẹ nhàng lăn, ngập ngừng trên những dòng chữ khắc trước khi chảy xuống, thấm vào những bó hoa rực rỡ đặt bên dưới.

Bốn mươi năm sau khi người lính Hoa Kỳ cuối cùng trở về nhà, một nhóm người ở San Jose đã hoàn thành nguyện ước: gởi một lời tri ân xứng đáng đến những người lính sinh ra, lớn lên tại San Jose, và đã ngã xuống tại chiến trường Việt Nam.

Lời tri ân đó là một bức tường cao một mét tám, dài bốn mét nằm trên đường Santa Clara, con đường chính của thành phố San Jose. Bức tường có tên “Những Người Con Trai Của San Jose” (Sons of San Jose). Sau cùng, một trăm bốn mươi hai người trai trẻ đã được tưởng nhớ bằng sự kính mến và lòng biết ơn xứng đáng, tại thành phố nơi họ đã sinh ra và lớn lên.

Trên nền đá đen bóng, những cái tên khắc bên cạnh ngày sinh, ngày mất đã đem họ về trong ký ức của cư dân San Jose, trong đó có nhiều người đã đưa tiễn ngày họ lên đường thực hiện sứ mạng chiến sĩ tự do cùng với những đồng minh ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Rất nhiều người vẫn còn nhớ rằng họ đã hẹn quay trở lại.

Nhưng, dù muốn dù không, cuộc chiến tranh Việt Nam đã là một cuộc chiến gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Từ năm 1956, khi Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp trực tiếp vào tình hình chính trị ở bán đảo Đông Dương, cho tới năm 1974, khi những chiếc máy bay chở những người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, tất cả là mười tám năm. Mười tám năm tranh cãi giữa các thế lực ở Washington D.C., mười tám năm giằng co và thương thảo giữa các sức mạnh quốc tế đã làm người dân Hoa Kỳ quá mệt mỏi. Tiện thể, nhiều người đổ lỗi mọi khó khăn về kinh tế, xã hội trong thập niên 60 và đầu 70 cho cuộc chiến này. “Ngày tôi trở lại Hoa Kỳ, hai mươi người phản chiến đã tấn công tôi, chỉ cách đây ba ngã tư đường…” một người lính năm xưa, tóc bạc trắng, đứng cạnh bức tường, bồi hồi nói.


blank
Mặt sau của bức tường “Những Người Con Trai của San Jose” quay về phía đường West Santa Clara.

Người sống còn bị như thế, nói gì tới người đã chết.

Họ như đã biến vào khoảng không; người ta quên họ đi, cũng giống như người ta không thích nhắc tới những thất bại trong đời. San Jose đứng thứ hai trong nước Mỹ, chỉ sau Los Angles, về số lính đã tử trận trong cuộc chiến Việt Nam. Tuy vậy, hơn ba mươi năm sau, San Jose vẫn không có một nhắc nhớ gì đến những người đã ngã xuống, như thể đây chưa từng là nơi họ chào đời, chưa từng là nơi họ lần đầu trầy gối, sước tim.

Cũng may là vẫn còn một số người thấu hiểu những gì người lính của chiến tranh Việt Nam phải trải qua.

Frank Lopez tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến cuối năm 1967. Tết Mậu Tân đầu năm 1968, Frank đóng quân tại một ngôi làng nhỏ ở ngoại thành Huế. Khi làng chìm trong biển máu, anh phải quyết định cứu người nào trong số mấy trăm người dân bị thương nằm la liệt chung quanh. Lúc đó anh mới mười chín tuổi đời, hơn sáu tháng tuổi quân.

Năm 2006, người lính Frank Lopez năm xưa họp lại với vài người bạn cùng lớn lên ở San Jose và cùng tham chiến ở Việt Nam. Họ có nhiều huân chương cao quý như Ngôi Sao Đồng Anh Dũng Bội Tinh (Bronze Stars) và Chiến Thương Bội Tinh Trái Tim Màu Tím (Purple Hearts), nhưng thân thể họ đầy thương tích. Họ chia sẻ những ký ức đẹp đẽ hoặc kinh hoàng, những quyết định trong khoảnh khắc lửa đạn đã trở thành những câu hỏi đeo đẳng suốt đời. Nhưng điều gắn bó họ với nhau mạnh mẽ hơn hết là quyết tâm không quên những người không có may mắn trở về. Trong suốt mấy chục năm, họ chưa từng để những tranh cãi, những thủ đoạn chính trị ở khắp nơi làm hoen mờ sự sự hy sinh tuyệt đối của những đồng đội năm xưa.

Bốn người lính – nay đã già - cùng nhau lập ra hội Tưởng Nhớ Chiến Tranh Việt Nam tại San Jose (San Jose Vietnam War Memorial Foundation) và bắt đầu cuộc vận động xây một bức tường tưởng niệm. Với những trái tim sắt son và những bàn tay trắng, họ đã làm việc trong gần sáu năm để xin đất của thành phố, xin giấy phép, quy hoạch công trình, và quyên góp được bảy mươi lăm ngàn đô la cho chi phí. Tháng Mười năm 2012, xẻng đất đầu tiên được đào lên, và cuối tháng Ba năm 2013, bức tường được khánh thành. Tên của tất cả một trăm bốn mươi hai người lính đã được đọc lên trước hơn năm trăm quan khách, trong đó có rất nhiều người thân của họ, những người chưa bao giờ quên họ.

Chẳng hạn như ông Mike, chuyên viên y tế ở chiến trường Việt Nam thời cuối 60. Ông nói trong buổi lễ “Bạn tôi, Steve Ohara, ở trên tường đó. Hai đứa thân nhau từ năm lớp Sáu. Tôi là người khiêng hòm ngày đưa đám nó, ngay trong tuần lễ tôi lên đường qua Việt Nam”. Hoặc như tám người trong nhóm của ông Raymond Bernal Jr. Chín người bạn thân cùng học tại trường Trung Học San Jose, cả nhóm đều nhập ngũ và sang Việt Nam. “Chỉ có Raymond là không trở lại”, một người bạn của ông bùi ngùi nói.

Điều đáng tiếc duy nhất là ông Frank Lopez đã không đến dự buổi lễ. Ông qua đời vào cuối tháng 11, 2012 do những di chứng từ chất độc da cam mà ông đã nhiễm trong thời gian ở Việt Nam. Trong những ngày cuối cuộc đời, ông vẫn là niềm khích lệ cho các bạn, ông đã mỉm cười hài lòng khi nghe tường thuật về buổi lễ khởi công bức tường. “Ông đã tìm được bình an”, con trai ông nói.

Thật ra, bức tường còn giúp nhiều người khác tìm được bình an.

Bởi vì, không chỉ là một lời cám ơn muộn đến những người đã chết, nó còn nối lại những nhịp gãy trong cây cầu tình cảm của người còn sống, như một lời xin lỗi công khai về những hành động giận dữ và kém hiểu biết của những người phản chiến quá khích năm xưa.

*

blank
Phần giữa của bức tường.

Tôi biết tin về buổi lễ khánh thành bức tường Sons of San Jose qua mạng internet. Tôi tìm ngay đến trang riêng của công trình, đọc thêm nhiều chi tiết và tự nhủ sẽ ghé thăm vào dịp gần nhất.

Và tôi đã đến đó vào một buổi trưa đầu tháng Tư, 2013.

Bức tường nằm ở đường West Santa Clara, chỉ cách tòa Thị Chính San Jose năm phút lái xe. Đứng bên dòng sông Guadalupe chảy lặng lờ, đối mặt với bãi cỏ xanh của công viên, quay lưng với dòng xe cộ ngược xuôi, bức tường trông trang nghiêm nhưng vẫn có chút gì nhỏ nhoi, đơn độc. Nhỏ nhoi như những gì những người bạn làm được cho những người đã ngã xuống.

Bức tường có hình dáng như một lá thư mở. Hai phần bên là danh sách của một trăm bốn mươi hai người lính đã ngã xuống ở Việt Nam từ năm 1961 đến 1975. Phần giữa có giòng chữ “Cho 142 người đàn ông của San Jose đã hy sinh tất cả cho đất nước. Họ không muốn bị xét xử bằng những chính kiến về cuộc chiến Việt Nam. Họ mong được tưởng nhớ qua sự dũng cảm của chính họ. Họ nhắn rằng bạn đừng rơi nước mắt vì họ đã ra đi, nhưng hãy trân trọng sự can đảm của họ và đừng để họ bị chìm vào quên lãng.”

Buổi trưa hôm đó trời rất đẹp. Mặt trời sáng rỡ nhưng không chói chang, chiếu ngời trên nền hoa cương đen bóng. Tôi đọc tên từng người trên tấm đá. Anderson… Burns … Chapa… Gonzales… La Rosa… Masuda… Owens… Spitzer… Trisler… Urrabazo… Wade… Xavier. Tất cả đều quá trẻ. Hầu hết họ chưa tới hai mươi lăm tuổi, rất nhiều người mới mười chín, và người lớn nhất cũng chỉ ba mươi bốn tuổi.

Đọc nửa chừng tôi dừng lại, ngước nhìn lên, hít một hơi dài, cảm thấy như mình đang khiêng nặng cần lấy sức. Bầu trời xanh trong, không một gợn mây. Và tôi nghĩ hơn bốn mươi năm trước, một trăm bốn mươi hai người thanh niên đã lần lượt chia tay với bầu trời thanh bình này, vượt qua mười hai ngàn cây số đến chiến đấu ở quê hương Việt Nam của tôi, và không bao giờ trở lại.

Tôi bồi hồi dừng lại lâu nhất ở Gerald Cervantes, Richard McGuire, Timothy Proudfoot, Matthew Smith, và John Tacsh. Bởi vì họ chỉ có mười tám tuổi. Ở tuổi đó, con trai tôi mới biết lái xe, còn ngập ngừng suy tính nên chọn trường đại học gần hay xa nhà. Còn những chàng trai vừa-trở-thành-người-lớn này, khi chết họ cũng mới rời thành phố quen thuộc, qua Việt Nam được vài tháng. Họ có nhớ nhà không, họ có bị sợ hãi và đau đớn nhiều không khi gục xuống ở Bình Long, Quảng Trị, Thừa Thiên?

Trong số người trên bức tường đó, có hai thân xác không bao giờ tìm được. Người thứ nhất là Thiếu Tá Hải Quân Larry Michael Jordan, hai mươi sáu tuổi, biến mất khi chiếc máy bay chở ông bị bắn hạ trong vùng biển Trung Hoa năm 1966. Lúc đó, con gái đầu lòng của ông mới lên hai và vợ ông đang mang thai sinh đôi tới tháng thứ chín. Bảy năm sau, cơ quan tìm kiếm của chính phủ Hoa Kỳ mới đổi ông từ tình trạng “Mất Tích” sang “Tử Trận”. Người thứ hai là Thượng sĩ Robert Masuda, hai mươi mốt tuổi, xạ thủ súng liên thanh, biến mất năm 1969 cùng với người lính phụ tá khi đang canh phòng ở một khúc đường làng hẻo lánh thuộc tỉnh Bình Dương. Trong lá thư hồi âm hội Tưởng Nhớ Chiến Tranh Việt Nam tại San Jose, em ruột ông Masuda nói “Cha tôi qua đời vì trụy tim một năm sau khi anh tôi mất tích. Chúng tôi nghĩ rằng ông không thể chịu đựng nổi sự khắc khoải khi không biết chuyện gì đã xảy đến với anh tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn mong anh tôi về, nhưng đã bốn mươi bốn năm rồi…”

blank
Mặt chính của bức tường.

Thẫn thờ, tôi đặt tay lên những dòng chữ khắc. Nền đá lạnh ngắt, và bỗng nhiên một ký ức rất xa bừng dậy trong đầu tôi.

Mâm cơm vừa mới dọn ra.

Ầm! ầm! Hai tiếng nổ xé tai. Mẹ tôi thét lên, đẩy tôi chui vào gầm giường.

Ngoài đường vang lên tiếng la hét, tiếng khóc.

Tiếng nổ, tiếng nổ, và tiếng nổ nối nhau tưởng như không bao giờ dứt. Căn nhà run lên như sắp xập xuống.

Rồi tiếng người lớn vang lên trong loa phóng thanh. Mẹ tôi mặc vội cho tôi cái áo len đỏ rồi bế xốc em bé út lên tay. Bố Mẹ tôi cùng đám con - đứa lớn nhất chưa đi học, đứa nhỏ nhất chưa biết đi - líu ríu chạy ra khỏi nhà. Một người lính Mỹ chạy lại sớt lấy con bé áo đỏ đang mếu máo rồi cùng Bố Mẹ tôi nhập vào đám người đang hoảng hốt chạy ra đầu đường.


Ký ức đó đã khắc sâu vào đầu tôi. Lần đầu tiên tôi nhớ lại rõ ràng là khi gặp một tấm hình chụp trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968. Hình đó ở ngã tư cầu Phan Thanh Giản-Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu xóm tôi, được đánh dấu bằng cái tháp nước cao chót vót, trông giống như cái phi thuyền mà tôi đã thấy không biết bao nhiêu lần. Người lính Mỹ lưng đeo súng, ôm hai đứa bé chắc chẳng khác gì người lính tay súng tay bồng con bé áo len đỏ năm xưa.

Những người tôi đang đọc tên trên bức tường chắc cũng rất giống người lính trong tấm hình và trong ký ức tôi. Biết đâu chừng có người trong số họ đã có mặt ở gần nhà tôi, đã giúp mở vòng vây cho bà con trong xóm chạy nạn.

Hôm đó, khi ra về, tôi tự hứa sẽ viết một bài về Những Người Con Trai Của San Jose trước ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) 2013.

Nhưng tôi không thực hiện được lời hứa đó. Một phần vì công việc hãng quá bận, nhưng lý do chính là lòng tôi nặng nề. Tôi cứ nghĩ đến những người lính Mỹ rồi lại nghĩ đến hàng triệu người lính Việt Nam cũng đã chết khi còn rất trẻ. Tôi nghĩ đến những cuộc đời chưa kịp sống, những trái tim chưa kịp yêu. Tôi nghĩ đến những thân xác tan nát hay vùi bờ, lấp bụi, không được về với thân nhân. Tôi nghĩ tôi nợ họ rất nhiều. Tôi viết được vài hàng rồi bỏ dở …

*

blank
Người lính Mỹ trên cầu Phan Thanh Giản trong Tết Mậu Thân, 1968. Hình chụp bởi Ishikawa Bunyo (copied từ internet)

“Trận đánh diễn ra khốc liệt trong suốt buổi chiều. Trung đội của họ bị bao vây tấn công bởi số lượng địch đông hơn nhiều. Nhiều người gục xuống nhưng họ tiếp tục chống trả vô cùng mãnh liệt. Khi hoàng hôn xuống, cuộc giao tranh giảm bớt cường độ, có lẽ bên địch quân cũng bị tổn thất không ít. Ngay lúc đó, đội quân tiếp viện mở được đường máu cho họ rút lui. Trung đội trưởng ra lệnh cho tất cả mọi người rút thật nhanh và ông đi sau cùng. Mới được một quãng ngắn, ông thấy một người lính trẻ đang hớt hải đi ngược lại.

  • Đi đâu? Muốn chết hả?

  • Thưa Chuẩn Úy, thằng X còn kẹt ở trong đó!

  • Nó không nghe được lệnh rút thì chắc là nó hy sinh rồi. Thôi, rút đi!

  • Em với nó sống chết có nhau. Chuẩn Úy cho em trở lại tìm nó, em van xin Chuẩn Úy!

Im lặng một giây. Ông Chuẩn Úy thở dài:

  • Đi mau đi. Năm phút nữa mày không trở lại thì tao mặc kệ mày đó.

Mấy phút sau, người lính trẻ quay lại, cõng bạn trên lưng, nước mắt đầm đìa trên mặt.

  • Nó chết rồi!

  • Thôi chạy đi! Mày mà nghe tao thì đâu mất công...

  • Em không mất công đâu, Chuẩn Úy. Bởi vì khi em tới kêu tên nó, nó đã mở mắt ra và nói câu cuối cùng: ‘TAO BIẾT MÀY SẼ TRỞ LẠI’

Câu chuyện trên đây tôi nghe kể trên radio đã khá lâu. Và vô cùng cảm động.

Việc làm của bốn người lính San Jose, quay trở lại với ký ức tưởng đã lãng quên sau hơn ba mươi năm, vượt qua bao nhiêu khó khăn tinh thần và vật chất để dựng bức tường thương tiếc đã làm tôi nhớ tới câu chuyện này. Tình đồng đội đẹp đẽ và cao quý biết bao! Và câu chuyện còn cho tôi thấy rằng: dù có khi hành động không đem lại kết quả mong muốn, nhưng tấm tình và sự cố gắng tự nó cũng có ý nghĩa rất nhiều.

Mùa lễ Chiến Sĩ Trận Vong năm nay, tôi trở lại viết tiếp bài Những Người Con Trai Của San Jose dù những cảm nghĩ nặng nề năm ngoái vẫn còn cộng thêm những nỗi ưu tư mới. Có lẽ đây là một trong vài bài viết khó khăn nhất đối với tôi.

Khi quyết định quay lại với bài viết dang dở, tôi nhớ ông Frank Lopez và nhóm bạn bốn người lính già cuối đời vẫn phải dựng bằng xong bức tường ghi danh Sons of San Jose; nhớ chuyện người chiến sĩ trước khi rút lui vẫn trở lại với đồng đội gục ngã; nhớ người lính Mỹ trong cảnh khói lửa vẫn cưu mang hai trẻ em Việt. Hình như những tấm gương ấy cho tôi thêm sức mạnh. Bài viết nhỏ này được hoàn tất với lòng biết ơn.

Khôi An

(Bản mới)

  1. Những tin tức về buổi lễ khánh thành bức tường Sons of San Jose được thu thập từ nhiều bản tin trên mạng internet.

 2. Trang mạng riêng của bức tường Sons of San Jose: http://www.sjwarmemorial.com

Ý kiến bạn đọc
02/06/201423:23:56
Khách
KhA cám ơn độc giả wowang và Orchid Thanh Lê đã để lại lời.
Đặc biệt cám ơn chị Orchid Thanh Lê đã cho KhA biết tên nghi cách của huân chương Purple Heart Medal là “Chiến Thương Bội Tinh” (KhA có tìm hiểu tên tiếng Việt của huân chương này khi viết bài nhưng tìm không ra trong thời gian ngắn trước Memorial Day năm nay. Vì thế, đành dịch một cách chân chất là "Trái Tim Màu Tím" nghe khá lãng mạn :-) ).
Qua bài viêt này KhA đã có thêm những kiến thức về quân đội, KhA rất trân trọng các bạn đọc đã quan tâm chia sẻ.
KhA biet thay đổi version online thì khó, nhưng vẫn gởi bản mới đến Việt Báo. Nếu bản này không dùng được cũng không sao, KhA vui vì được học hỏi và cố gắng làm điều tốt nhất.
30/05/201418:13:43
Khách
Bài viết của Khôi An công phu với nhiều chi tiết chắt lọc và nghiên cứu kỹ. Đọc một lần thì muốn đọc lại nữa.
Xin chia sẻ một điều nhỏ với Khôi An: có một tên nghi cách cho Purple Heart Medal mà Khôi An nhắc đến trong bài, đó là “Chiến Thương Bội Tinh”. Chỉ cần nhắc đến tên này, người đọc / người nghe có thể hình dung được ý nghĩa của chiếc huân chương được trao tặng. Nhưng đây không phải là sự góp ý, Khôi An nhé, chỉ là sự chia sẻ thêm. Quân đội rất chú trọng đến nghi thức và quân cách, có lẽ vì vậy mà tôi hơi méo mó nghề nghiệp chăng? Tôi vẫn thích “Trái Tim Màu Tím” của Khôi An đấy.
Quí mến,
Orchid Thanh Lê
29/05/201421:59:59
Khách
Cám ơn anh Đức, chú Sáu, chú Hưởng cùng các ba,n đọc C Tam và ĐT đã ghé xem và để lại lời khen, góp ý.
Riêng về hai điểm chú Hưởng nêu ra thì Khôi An xin trả lời như sau:
1) Máy bay chở Thiếu tá Jordan thực sự bị bắn rơi ở vùng biển của Trung Hoa, gần quận Kuangtung chứ không phải là ở China Beach (tên gọi chính xác là biển Mỹ Khê, Đà Nẵng)
2) Vì ghi theo trí nhớ nên chi tiết trong câu chuyện người lính trở lại tìm bạn có lẽ không chính xác (chức vụ của Trung đội trưởng chắc là Thiếu úy chứ không phải Đại úy.) Khôi An xin ghi nhận lời góp ý của chú và sẽ tìm cách điều chỉnh với Việt Báo, nếu có thể được.
29/05/201421:58:02
Khách
Cám ơn tác giả Khôi An đã viết lại câu chuyện này, vì chúng ta phải nên luôn luôn tri ân những người lính đã ngã xuống cho lý tưởng cao quý và mang lại sự tự do, an lành cho đời sống người dân v.v...
Tác giả Khôi An viết rất hay và thật cảm động!
28/05/201420:12:03
Khách
Cám ơn cô Khôi An rất nhiều.
ĐT mới đọc xong 2 quyển sách THE GOOD SOLDIERS và THANK YOU FOR YOUR SERVICE của tác giả David Finkel. Đọc xong ĐT hiểu rõ hơn và càng tri ân những người đã ngã xuống để ĐT được hưởng tự do hôm nay.
28/05/201401:35:41
Khách
Truyen that cam dong ! Xin cam on chi Khoi An da viet truyen nay.
28/05/201400:40:31
Khách
Chào cô Khôi An
Bài cô viết rất hay và cảm động. Xin đề nghị cô sửa 2 điểm rất nhỏ:
1- Vùng biển Trung Hoa (China Beach) tên Việt là vùng biển Mỹ Khê Đà Nẵng
2- Chức vụ Trung Đội Trưởng thường do một hạ sĩ quan đảm trách. Nếu là sĩ quan thì từ cấp Chuẩn Úy đến Thiếu Úy thôi. Cấp bậc Đại Úy thường giữ chức vụ Đại Đội Trưởng hay Tiểu Đoàn Trưởng
Thân mến
Hưởng
27/05/201416:15:13
Khách
Chào cháu Khôi An,
Bài viết cháu rất hay và cảm động. Chú thấy cháu viết bài về chủ đề này là mừng rồi. Trước kia, thời chiến tranh Việt Nam và lâu năm sau ít ai bên đây nhắc đến những lính đã chết hay là những người lính cũ còn sống. Cảm ơn nhiều lắm. Xin cứ tiếp tục viết đi nhé.

Chú Sáu
27/05/201407:55:53
Khách
Bài viết gợi lại sự hy sinh của những người lính Hoa Kỳ đã sát cánh với quân đội Việt Nam Cộng Hòa đánh đuổi giặc Cộng xâm lăng và giết hại dân lành. Cám ơn Khôi An đã viết lại câu chuyện này vì chúng ta nên tri ân những người lính đã ngã xuống vì lý tưởng cao quý là mang lại sự tự do dân chủ cho người dân.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 808,561,474
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Khanh con gái bà chị họ của tôi, sinh năm Nhâm Tý xuân này tròn 48 tuổi, ông bà mình bảo, Nam Nhâm, Nữ Quý bảnh nhất thiên hạ. Mẹ nó tuổi Quý Tỵ, khổ như trâu, một đời vất vả gánh vác chồng con, con bé tuổi Nhâm mạnh mẽ như con trai nhờ ông ngoại hun đúc từ tấm bé.
Nhìn hai cây sồi cổ thụ ngoài ngõ cũng đủ biết căn nhà đã trả hết nợ từ lâu. Hai cái xe Cadillac của người già không lên tiếng nhưng nói biết bao điều về nước Mỹ. Khi còn trẻ thì người ta không có tiền để mua những cái xe đắt tiền như Cadillac, Lincoln. Những cô cậu thanh niên mắt sáng, chân vững tay nhanh, chỉ đứng nhìn theo những chiếc xe bóng loáng, mạnh mẽ…
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả
Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa Sau đây là bài viết mới nhất của Ông nhân ngày lễ Tạ ơn
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi, thấy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7/2018, với bài “Thời Gian Ơn, Ngừng Lại”. Tên thật: Nguyễn Thị Kỳ, Bút hiệu: duyenky. Trước 30.4.1975: giáo viên Toán Lý Hoa-Tư thục-Saigon-VN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.