Đáp Xe Đò Hoàng Đi Đào Vàng Ở Arizona

27/06/200900:00:00(Xem: 256041)

Đáp Xe Đò Hoàng Đi Đào Vàng Ở Arizona

Tác giả: Nguyễn Viết Tân
Bài số 2654-16208731- vb762709

Tác giả sinh năm 1950 tại Dầu Tiếng Bình Dương.  Quê quán: Rạch Giá, Kiên Giang. Trước 1975, phục vụ tại Phi Đoàn 253 Sói Thần, Đà Nẵng. Công việc của ông ở Mỹ là cùng với các bạn thầu landscaping cho freeway tại vùng Nam Cali, nhận job trải dài qua ba quận hạt Los Angeles, San Bernadino và Orange County. Năm 2001, với bút hiệu Tân Ngố và bài "Bên Bờ Freeway" ông đã nhận một  giải thưởng chính Viết Về Nước Mỹ năm thứ hai. Sách đã xuất bản: “Chuyện Miền Thôn Dã,” rất được bà con hâm mộ.  Sau đây là thêm một du ký chàng góp cho giải thưởng năm thứ 10. Vẫn rất là Tân Ngố. Hấp dẫn. Duyên dáng. Và... sexy.

* * *

Tôi mới đi đào vàng ở Arizona về.
Lên đó có mấy ngày mà nắng gió sa mạc làm rám hết má hồng.
Xe đò Hoàng nổi tiếng khi chạy đường Little SG đi San Jose, bây giờ lại có chuyến chạy đến thành phố Phoenix, tiểu bang Arizona.
Xe khởi hành trước chợ ABC khu phố Bolsa lúc 9g sáng thì hơn 10g đã vào tới vùng sa mạc khô cằn. Tuy thỉnh thoảng cũng có đồng cỏ cho bò ăn, hoặc những vườn cây chà là, nhưng đất đai hầu hết là hoang mạc, nhất là khi đã qua khỏi biên giới hai tiểu bang.
Cách đây mấy năm tôi có viết một bài về công ty xe đò Hoàng, ngay sau khi tài xế, người xếp đồ bị hành hung; xe đò bị đốt; chủ nhân Hoàng Linh bị sát thủ kê súng sát cửa kiếng xe bắn sáu phát mà thoát chết; cảnh sát đã bắt được hai người tình nghi nổ súng... Nay tôi lại có dịp nói về công ty này một chút trước khi đề cập đến mỏ vàng.
Hồi đó vì sợ xe bị đốt nữa, nên công ty này đã phải thuê xe đò của một công ty Mỹ, bao gồm cả tài xế và bảo hiểm, như vậy đối thủ sẽ không dám đụng tới như họ đã đối xử với công ty người Việt 100% này.
Bây giờ tòa đã xử, nhiều người bị án chung thân, và hầu hết chúng ta cũng đã biết ai đứng đằng sau việc khủng bố này. Họ tưởng rằng dựa vào tiền bạc và thế lực xã hội đen là có thể dẹp gọn, nuốt trọn một công ty hoàn toàn do người Việt Nam làm chủ.
Công ty kia đã bị phá sản nên bây giờ kể như Xe đò Hoàng một mình một cõi.
Tuyến Bolsa -San Jose hiện nay mỗi ngày có hai chuyến đi và hai chuyến về, cuối tuần thường là ba chuyến, như vậy cần có ít nhất là 6 chiếc bus loại lớn. Những ngày trong tuần, ít khách thì xe được thay phiên đưa đi bảo trì thường xuyên.
Nhiều người tưởng loại xe này chắc chỉ chừng vài ba trăm ngàn một chiếc, nhưng không ngờ giá nó lên tới gần nửa triệu. Tiền nào của nấy, xe tốt thì giá mắc và họ guaranty lên tới 1 triệu mile, trong khi xe thường của mình lên tới 100,000 mile mà thôi.
Nếu đường từ đây đi San Jose khoảng gần 500 mile thì cứ hai ngày chạy một ngàn dặm, vị chi 5 năm là đã chạy khoảng một triệu dặm rồi.
Xe nhỏ như loại chạy đi Arizona hiện nay chừng vài năm là họ bán để thay bằng xe mới, nhưng loại lớn cả nửa triệu thì chắc phải dùng gần 10 năm mới cần thay thế.
Tài xế xe đò Hoàng hiện nay hầu hết là người Việt, đã từng lái xe truck hay xe tải đường dài.  Muốn lái xe truck hay xe bus, tiếng Việt mình còn gọi là xe đò, cần phải có bằng lái đặc biệt, loại A hay B.  Tất cả tài xế xe đò Hoàng đều có bằng A hoặc B, không như chúng ta, chỉ được cấp bằng C, loại bằng thông dụng nhất để lái xe nhỏ.
Tài xế xe đò thì thoải mái hơn tài xế xe tải, và đương nhiên, ít lương hơn.
CHP (California Highway Patrol) thường chặn các xe truck mà kiểm soát an toàn. Họ dùng ghế có bánh xe, nẳm ngửa mặt mà chui dưới gầm xe, nếu có một giọt dầu rỉ ra khu vực máy là bị ốp liền. Họ còn kiểm các cơ phận dưới gầm cũng như đo độ dầy của bố thắng, độ mòn của bánh xe.
Người tài xế xe truck còn cần phải có kinh nghiệm load hàng, để khi vào trạm cân, đầu xe 15 tấn, axle (trục bánh xe) giữa là 30 tấn và phía cuối xe cũng 30 tấn. Nếu chất hàng không đúng, để lố trên một axle nào đó thì tài xế phải bỏ tiền túi ra mà nộp phạt $1,000 một lần vi phạm. Xe chất hàng không đều, thí dụ phía sau nặng quá, lúc thắng gấp xe thường bị "bê" có thể gây ra tại nạn khủng khiếp trên freeway nữa.
Xe có dán một hình chữ nhật trước kiếng, CHP chỉ cần nhìn dấu hiệu này mà biết độ an toàn của chiếc xe đó, nếu bị cảnh cáo một lần thì CHP xé một phần tư, hai lần thì xé một nửa.
Khi vào trạm cân, người ta nhìn mặt tài xế, nếu thấy anh nào mặt phờ phạc, liền check lộ trình và giờ lái xe, chỉ được lái liên tiếp 10g mà thôi, nếu quá lố thì họ bắt buộc ngừng lại để tài xế ngủ lấy lại sự tinh nhanh cho an toàn. Nếu tài xế đi một team từ hai người trở lên, thì xe có thể chạy luôn 24g/ngày, nhưng tài xế phải thay phiên nhau mà lái, phải ghi rõ trong log của xe đó để khi bị kiểm soát thì trình ra.
Tôi đến thành phố Phoenix trong một chiều chẳng có nắng tơ vàng hiền hòa gì cả, nắng khô khốc quạt vào mặt, nóng quăn cả râu.
Xe đò ngừng tại tiệm Lee 's Sandwiches ở Chandler-Arizona. Anh Minh chạy xe ra đây đón tôi, định rủ vô uống cà phê theo gout Pháp và ăn bánh mì baguette nhưng tôi từ chối, vì từ nhỏ không thích uống cà phê, cũng như nếu ăn bánh mì vỏ cứng là da non trong miệng rách toè loe ra xót lắm. Anh ấy cứ khen không biết tiệm Lee pha bột thế nào mà mua bánh từ hồi sáng, để tới chiều vẫn còn thơm ngon.
Khu thương mại đối diện có một siêu thị lớn như ở Bolsa, mà vì mới xây nên sạch sẽ, thơm tho không ngửi thấy mùi hôi hám gì hết.
Gần đó có tiệm phở Vân, phở ở đây hương vị cũng không khác khu Bolsa. Parking rộng rãi nắng sáng lòa, tôi thấy vậy than nóng quá, nhưng anh bạn đến đón tôi về Mesa thì nói rằng nóng vầy ăn nhằm gì, cách đây 3 năm khi gia đình anh ấy mới về đây nóng tới 117 độ, nóng toé khói, nắng làm rạc người đi." Chúng tôi về nhà đợi mặt trời gần lặn thì xách cần đi câu.
Chữ Mesa có nghĩa là đồng cỏ, hèn chi thành phố này vì có mạch nước ngầm nên cánh đồng bắp xanh tươi đang trổ bông rất đẹp. Từ hồi còn nhỏ tôi đã có mỹ cảm với cây bắp nên nhìn những cây bắp mọc sát vào nhau, bông phất phơ trong gió tôi cảm thấy lòng mát dịu ngay lập tức.
Lúc ra đến một hồ nước rất rộng ở thành phố Gilbert, anh Minh gặp một người bạn là anh Cân đang quăng mồi, chị ấy ngồi kế bên như cặp Tiên đồng Ngọc Nữ. Ông này là cựu Thiếu sinh Quân, cựu Khóa 21 VB Đà Lạt, cựu nhân viên Bưu Điện California.... cựu tùm lum.
Anh ấy nghỉ hưu sớm để dời về Arizona. Tôi ngạc nhiên là tại sao anh ấy rời Cali, một nơi mát mẻ để vào sống nơi sa mạc như vậy. Nghe anh Minh vừa cười vừa tiết lộ là trong mấy năm vừa qua, anh Cân đi đào vàng, nghe nói có lần dzớt được một cục nugget nặng hơn 5 pound.
Hèn chi ổng mua nhà lớn, sắm xe đẹp, mỗi tuần đi đào vàng vài ngày, những ngày còn lại hai vợ chồng đi câu cá chơi mà thôi, tướng tá ngon lành, râu tóc bạc phếu trông rất tiên phong đạo cốt.
Nói chuyện một hồi mới biết ổng cũng  là Cựu Pilot Trực Thăng của một phi đoàn mãi tận Pleiku. Ổng diễu diễu giới thiệu phu nhân đang cười ngồi kề bên chính là sơn nữ Phà Ca của "Phố núi cao, phố núi đầy sương" ngày xưa, khi anh đi biên trấn Vùng II.
Cá hôm nay ăn không liên tục, "nhiều con to bằng bàn tay xoè", chừng 9g tối chúng tôi về ăn một bữa nữa rồi mang bia ra uống cạnh hồ tắm.
Anh chị Minh trồng rau cỏ, hoa trái xanh tốt quá, nhất là mấy bụi chuối đẹp không thua gì hàng chuối sứ tôi trồng bên Quận Cam.
Bầu trời sa mạc trong veo, tinh tú như gần với chúng ta hơn, ánh đèn máy bay chớp tắt bay đầy trời. Đó là những máy bay tư nhân, họ chở vợ con bạn bè đi ngắm đèn thành phố về đêm. Khoảng 11g khuya chúng tôi mới đi ngủ để sáng hôm sau đi mỏ vàng.
Sáng dậy sớm, cần cổ tôi tự nhiên cứng ngắc, không quay qua quay lại được. Nó đau làm tôi suốt đêm không ngủ nghê ra hồn, chắc là hôm qua ngồi trên xe đò tôi cứ nghiêng đầu liếc nhìn một cô mặc áo trễ ngực ngồi hàng ghế bên kia, nên bây giờ mới bị vẹo đầu như thế. Đúng là thiên bất dung gian.
Điểm tâm sơ sơ xong là chúng tôi lên đường đi Apache Trail để vào mỏ vàng.
Ông Thái Vinh, một cư dân vùng này đã viết trên trang nhà của ổng (unclenguyen.com) như vầy thì quí vị coi sao không mê cho được (") Mình phải đi săn vàng ngay đi chứ, biết đâu mèo mù vớ cá rán, trời thương thì giàu nứt đố đổ vách ngay:
"Dạo ấy vào năm 1872 Jacob Waltz và Jacob Weiser, hai đại hành gia gốc Đức chán cảnh thường nhật xắn quần xúc cát đãi vàng với các bà sồn sồn dọc hai bên bờ sông Salt nắng chang bang, bèn âm thầm rủ nhau phiêu lưu đi vào vùng rừng núi hoang dã Tonto ở phía đông Phượng Hoàng Thành. Bẵng đi một thời gian, mọi người đã quên lãng, thì cả hai lại trở về, người ngựa nhuễ nhoại ì ạch kéo theo vô số túi vải chứa đầy vàng cục. Từ đó hai đại hành gia sống một cuộc đời đế vương, ăn chơi trác táng, coi tiền như rác! Lúc nào hết, đợi đêm thanh vắng cả hai lại lên ngựa âm thầm vào Núi Mê tha của về xài. Một hôm Jacob Weiser bị mất tích một cách bí mật. Người ta đồn rằng Jacob Waltz đã dùng đá đập nát đầu bạn để hưởng thụ kho vàng một mình. Chừng như hối hận, về cuối đời Jacob Waltz tích đức làm nhiều việc thiện và mất năm 1889, thọ 80 tuổi. Ông để lại lời trối trăn về sự bí mật của mỏ vàng trong Núi Mê cho người bạn gái. Ròng rả suốt 40 năm, người bạn gái ấy cùng với người con nuôi của nàng, hợp lực với người cha và chú của người con nuôi ra sức moi móc, cuốc bửa, và đục đẽo khắp rặng Núi Mê; và mấy trăm năm sau nữa còn biết bao người tiếp tục âm thầm khám phá mỏ vàng ấy. Đã có biết bao mạng người đã gục ngã vì điều kiện khí hậu sa mạc quá khốc liệt; nhưng kết quả chẳng có gì!" (Hết trích)
Tên mấy cái bộ lạc Da Đỏ vùng này sao khó đọc bỏ bu: Cherokee, Apache, Sioux, Nezpierce... nhưng không hiểu vì lý do gì mà người ta thường lấy tên mấy bộ lạc mà đặt tên cho xe truck và trực thăng vậy (")
Từ Mesa chúng tôi chạy xe chừng vài chục phút thì đã thấy núi Mê (Superstition Moutain) sừng sững trước mặt. Phía trái rặng núi có những cột đá chĩa lên trời như những ngón tay, cũng có thể kho tàng đã được dấu tại một trong những ngón tay khổng lồ này.
Bên phải con đường là một Viện Bảo Tàng. Nơi đây còn để lại nhiều di tích lý thú: Ngay tại cổng là một chảo gang thật lớn như bánh xe hủ lô. Chảo này dùng để nấu chảy quặng vàng còn đang lẫn lộn trong đá. Khi vàng đã nóng chảy ra rồi, họ rót nó ra và trong chảo chỉ còn đá thôi.
Phía xa xa là một máy đập đá. Với kỹ thuật hồi đó, máy như vậy là "hoành tráng" lắm rồi, nhưng nếu bây giờ còn khai thác vàng lẫn trong đá núi như vậy người ta chỉ cần dùng máy nghiền đá đơn giản như loại trong các bãi trộn bê tông là đủ.
Tại các mỏ bên Việt Nam (Bồng Miêu -Đà Nẵng- Quảng Nam) hay ở giòng sông Salt, hoặc một số mỏ bên California, mảnh vàng nhỏ li ti nằm lẫn trong cát gọi là sa khoáng, người ta phải dùng những chảo mà sàng lóng những mảnh nhỏ vàng, còn tại nơi này, chỉ có những người Mễ hồi khởi đầu mới dùng búa, cối đá mà giã đá cho nhỏ ra rồi mới sàng lọc panning trong giòng nước.
Kể từ khi ông Jacob Waltz (1810) về lập nghiệp ở vùng này, mỏ vàng đã khai thác được mấy trăm triệu đô la, mà giá trị ngày nay chắc đã thành ra bao nhiêu ngàn tỉ.
Trên những cục đá đã bị đập vỡ ra to bằng hộp diêm quẹt, ta có thể thấy một vài sợi chỉ vàng kéo dài ra, thỉnh thoảng lại vón lại một cục to bằng hạt gạo. Cũng có khi cục nugget to bằng bàn tay, dáng xoè ra như người ta cầm một cục bột rất nhão mà nện mạnh xuống đất cho nó toè loe ra vậy.
Vàng mảnh panning sàng trong cát, vàng chảy từ lò nung đá đều lẫn lộn các kim loại khác nên phải đưa đi phân kim thì mới lấy được vàng ròng.
Tôi nhìn thấy trong tủ kiếng an toàn trong Viện Bảo Tàng có một khối vàng 999.9 to hơn miếng đậu hũ bán ngoài chợ đề giá trị là 100 ngàn, không biết là giá trị hồi xa xưa hay giá thực hiện nay.
Tại đây cũng có ngân hàng Wells Fargo rất nhỏ, logo màu đỏ vàng có mấy con ngựa đang kéo wagon của nhà băng này vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ. Kế bên đó là một nhà tù bé tí teo, phòng Sheriff có một bàn gỗ nhỏ ngăn cách với cái giường tù nhân bằng cánh cửa có song sắt rất thô sơ.
Tiệm chụp hình, bar rượu, lò rèn... bây giờ dùng để quay phim cao bồi.
Chúng tôi đi một vòng rồi sang khu Gold Field Ghost Town.
Khi cơn lốc vàng đã đem theo rất nhiều người săn vàng từ mọi nơi đổ về đây, dân số tăng lên đến hơn năm ngàn người, mà toàn là những tay anh chị tứ xứ, sử dụng súng và dao găm thanh toán nhau hàng ngày. Những dịch vụ khác kể cả gái ghiếc cũng ùa về theo để theo đóm ăn tàn, vì vậy tệ nạn xã hội xẩy ra nhan nhản khắp nơi.
Sheriff cũng không xử tử tội phạm bằng súng chi cho hao đạn, họ xài máy chém và treo cổ tử tội cho gọn nhẹ.
Cách đây hơn một trăm năm nơi này nhộn nhịp ngày đêm, bây giờ đúng là phố ma, chỉ có du khách vào những gian hàng bán đồ kỷ niệm trông rất lèo tèo.
Có một đoàn xe lửa chạy trên đường rầy nhỏ, chắc xưa kia là xe goòng chở quặng vàng, bây giờ dùng để chở du khách đi coi chung quanh mỏ.
Ta cũng có thể mua vé để tour guide dẫn xuống đường hầm sâu dưới đất, nơi đây vàng đã từng được khai thác.
Mỗi khay đá đập vụn để du khách tự đãi lấy vàng bán có $6. Người ta lấy vụn vàng này đổ vô lọ nhỏ đem về làm kỷ niệm.
Giữa thành phố ma có một nhà thờ nhỏ, hiện nay vẫn có Linh Mục tới làm lễ Chúa Nhựt lúc 11g sáng.
Một điểm rất đặc biệt, rất...wild wild west là cách nhà thờ khoảng vài chục thước có một... động đĩ!
Đúng là như bài đồng dao xưa: "Thiên đàng địa ngục hai bên. Ai khôn thời dại ai dại thời sa. Đêm nằm nhớ Chúa nhớ cha. Đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn". Thật chưa thấy ở đâu có cảnh quái đản như vậy.
Tôi nghe nói những ngày cuối tuần hay dịp tổ chức lễ hội thì đông lắm, có cả cao bồi cưỡi ngựa, các cô gái níu kéo khách vào bar rượu, có cả thợ rèn, thợ hớt tóc y như ngày xưa vậy.
Xa xa, trên đồi xương rồng, có một nghĩa trang đá cục lởm chởm, chen lẫn với mộ bia lồi lõm trông rất kinh hãi.
Gần trưa, bầu trời không một vẩn mây, ánh nắng chạy rằn rằn trên sườn núi đá đen, sức nóng làm những bụi cây xơ rơ như muốn héo rũ. Những cây xương rồng lớn cỡ khoảng một ôm, cao chọc lên nền trời. Tôi ngao ngán nhìn vào sa mạc trước mắt rồi hỏi anh Minh:
-Mình lội vô rặng núi kia tìm vàng hả"
-Không, tôi rủ anh đến đây cho biết, chứ Chính phủ Liên Bang đã ra lệnh đóng cửa mỏ này từ ngày 31 tháng 12 năm 1983 rồi. Họ không còn cho ai vào để sục tìm kho tàng hay lượm vàng nữa đâu, nếu cần vàng thì anh cứ vào khu Phước Lộc Thọ ở Bolsa, trong đó thiếu gì, có cả hột xoàn nữa.
Thì ra những người đang ở thành phố Phượng Hoàng (Phoenix) muốn rủ bạn đến chơi, thấy ai cũng ngại ngần sợ nóng gió sa mạc, nên họ phải bày ra chuyện tìm vàng để dụ mình đó thôi.
Tuy nhiên, đã lên đây chơi một lần, thấy cảnh, thấy tình bạn nồng ấm ở đây tôi sẽ còn đi nữa, vì đi xe đò Hoàng chỉ có $30 còn rẻ hơn đi San Jose, dù khoảng đường này còn xa hơn đi San Jose tới 50 dặm.
Xe khỏi hành lúc 9g sáng mà đến 3g chiều đã tới rồi. Gần xịt à.
Ước mơ lần tới lại gặp cái cô mặc áo thun trễ ngực, nhưng tôi nhất định sẽ không thèm nhìn, để cái cần cổ khỏi bị quẹo qua một bên!
Nguyễn Viết Tân

PS: Khi viết xong bài này, anh Đỗ Tiến Bình Minh mới gửi cho tôi email như sau:
"Năm 1949 những người đi tìm vàng đã khám phá ra những phiến đá có đồ hình, mà người ta tìn rằng nó chứa đựng chìa khóa để tìm ra kho vàng. Cho mãi đến hôm nay, ngày 25 tháng 6 năm 2009,  Nhà Bảo Tàng Núi Mê  (Superstition Mountains Museum) mới trưng bày cho công chúng biết. Vậy ai là người sẽ cùng chúng tôi đi săn vàng thì liên lạc gấp. Nhớ mang theo nhiều nước uống, gạo sấy, thịt chà bông, dao găm, súng và lều trại. Cần phải lái xe 4WD như loại Hummer, để có thể chạy trong mọi địa hình."

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 806,118,107
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Khanh con gái bà chị họ của tôi, sinh năm Nhâm Tý xuân này tròn 48 tuổi, ông bà mình bảo, Nam Nhâm, Nữ Quý bảnh nhất thiên hạ. Mẹ nó tuổi Quý Tỵ, khổ như trâu, một đời vất vả gánh vác chồng con, con bé tuổi Nhâm mạnh mẽ như con trai nhờ ông ngoại hun đúc từ tấm bé.
Nhìn hai cây sồi cổ thụ ngoài ngõ cũng đủ biết căn nhà đã trả hết nợ từ lâu. Hai cái xe Cadillac của người già không lên tiếng nhưng nói biết bao điều về nước Mỹ. Khi còn trẻ thì người ta không có tiền để mua những cái xe đắt tiền như Cadillac, Lincoln. Những cô cậu thanh niên mắt sáng, chân vững tay nhanh, chỉ đứng nhìn theo những chiếc xe bóng loáng, mạnh mẽ…
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả
Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa Sau đây là bài viết mới nhất của Ông nhân ngày lễ Tạ ơn
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi, thấy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả đã kề cận tuổi 90 và lần đầu nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2019, với bài về Washington D,C. Mùa Lễ Chiến Sĩ Trận Vong và Bức Tường Đá Đen khắc tên các tử sĩ trong cuộc chiến Việt Nam.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 7/2018, với bài “Thời Gian Ơn, Ngừng Lại”. Tên thật: Nguyễn Thị Kỳ, Bút hiệu: duyenky. Trước 30.4.1975: giáo viên Toán Lý Hoa-Tư thục-Saigon-VN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.